Rosalind
Franklin sinh ngày 25 tháng 7 năm 1920 trong gia
đình người trung lưu người Anh gốc Do Thái. Là con
thứ hai trong gia đình có hai gái ba trai. Là giáo
sư Do Thái đầu tiên của đại học London. Mặc dù sức
khoẻ yếu, Rosalind có một thời thơ ấu hạnh phúc và
anh em nhà Frankin được hưởng sự giáo dục tân thời
nên đã phát triển được các tính của họ. Rosalind
có tham vọng rất sớm là làm tất cả những gì mà các
ba anh em của cô làm được.
Rosalind Franklin là một đứa trẻ
có ý tứ nhưng quả quyết và có nhiều nghi lực, sau
này sẽ trở thành người thiện nguyện và có được trời
phú cho một cá tính mạnh mẽ làm rạng rỡ sức vui
sống. Cô học tại trường nữ trung học Saint Paul, nơi
chuyên dạy Vật lý và Hóa học. Từ lúc 15 tuổi,
Rosalind đã quyết định đi chọn khoa học, điều rất
hiếm hoi vào thời 1935, và cho đến sau này cô giữ
nguyên ý định đó mặc dù cha cô muốn cô theo những
hoạt động từ thiện.
Năm 1938, Rosalind được đậu vô
trường đại học cho sinh viên nữ, trường Newnham
College. Lúc bấy giờ các trường đại học nữ không
thuộc trường Đại học Cambridge. Chỉ có cao nhất là
300 nữ sinh viên trong số 5300 nam sinh viên. Cho
tới 1949, những nữ sinh viên ra trường cũng vẫn
chưa được xem là thành phần của trường Đại học này,
nhưng Rosalind đã đậu bằng Vật lý hạng cao tại trường
Đại học Cambridge .
Trong những năm 1930, nữ sinh
viên nào đang nhận học
bổng trường Cambridge đều bị bó buộc phải bỏ học
bổng nếu họ lập gia đình. Rosalind đã chọn việc học.
Cô được một học bổng để làm việc
với R. G. W. Norrish, người đượ c
giải Nobel Hóa học năm 1967 Cô không hợp với Norrish,
vì tính cả quyết, cô chỉ có thể làm việc với một sự
tương đối độc lập. Cô kết bạn với một nữ khoa học
gia người Pháp, tị nạm tại Cambridge, cô Adrienne
Will, sau này là một nhà luyện kim nổi tiếng. Sau
lần khởi sự thất bại đó, Rosalind Franklin được một
chỗ nghiên cứu tại British Coal Research Association
(CURA, Hội Nghiên cứu Than đá Anh quốc ). Năm 22
tuổi, được làm việc với những nhà vật lý trẻ của
Đại học Cambridge, và với việc làm thích hợp: khảo
cứu tính chất của các vi
cấu trúc (microtructure) của than, Rosalind
rất vui mừng.
Năm 1945 cô được đậu bằng Tiến sĩ
tại trường Đại học Cambridge và năm 1946 đã được
công nhận là một khoa học gia có năng khiếu.
Sau chiến tranh, cô muốn thay đổi
việc làm. Nhờ Adienne Weill và quá trình làm việc
khoa học, cô được một việc làm ở CNRS (Trung tâm
Nghiên cứu Khoa học Quốc gia) tại Paris.
Năm 1947, cô về làm việc tại
Phòng thí nghiệm Trung ương về Hóa học của nhà
nước. Jacques Méring dạy cho cô về kỹ thuật phát xạ
tia X và tinh thể đồ
(cristallographie) tia X. Thời gian sống ở Paris, từ
1947 đến 1950 có lẽ là thời kỳ hạnh phúc nhất của
Rosalind. Tại đây, cô kết bạn với vợ chồng Vittorio
Luzzati. Nơi này, cô cho in ra nhiều bài báo khoa
học trên pha vô định hình của carbone (phases amorphes du carbone)
Cô mong áp dụng kỹ thuật phát xạ
tia X cho những vật liệu sinh học. Năm 1951 Rosalind
trở về Anh quốc, làm việc tại King's college,
London, nơi đó J. T. Randall, giám đốc ngành Lý sinh học
(Biophysique) đề nghị cô khảo cứu trên cấu trúc của ADN.
King's College là nơi mà các nhà
khoa học nữ không được vô quán cơm của câu lạc bộ mà
phải dùng quán cà phê sinh viên. Rosalind Franklin
bị cô lập trong suốt ba năm trong khi làm việc ở
King's College. Cô chỉ liên hệ duy nhất với một sinh
viên tiến sĩ R. Gosling, người sẽ là cộng tác viên
của cô trong mọi bài báo về ADN. Cô bất đồng ý kiến
với Maurice Wilkins, một nhà lý
sinh học cũng nghiên cứu ADN như cô, sau này
được giải Nobel. Tuy vậy, cô vẫn đạt được những kết
quả khoa học đáng kể trong ba năm ở đó. Sau khi xây
dựng máy tia X tân tiến, cô có được những phim ảnh
của ADN dưới dạng B. Cô trình bày những kết quả đầu
tiên vào tháng 10 năm 1951 tại một cuộc hội thảo ở
King's College, trong số người dự, có J. Watson -làm
việc tại Cavendish Lab. trường Đại học Cambridge với
Francis Crick, trên cùng một chủ đề. Hình cô chụp
được gọi là "Photo 51"

Tiến trình những sự kiện xảy ra
sau đó thật đáng tranh cãi: M. Wilkins đưa cho J.
Watson tháng 2 năm 1953 những bản kẽm tuyệt đẹp do
Rosalind chụp chụp bằng tia X. Những hình ảnh này là
yếu tố quan trọng giúp Watson và Crick xây dựng
cấu trúc ADN vào tháng 3 năm 1953. Hình như lúc đó
Rosalind gần như sắp giải đáp cấu trúc này. Tháng
4/1953 báo Nature đăng bài cấu trúc ADN của Watson
và Crick. Bởi vậy, Rosalind quyết định rời ngay môi
trường làm việc đáng ghét
của King's college để qua
Birkbeck College. Tại đây, cô làm việc cho đến cuối
đời trên tinh thể đồ
( cristallographie) các virus cùng với cộng sự viên
Nam Mỹ, Aaron Klug, và trở thành nhà khoa học nổi
tiếng thế giới trong 3 lãnh vực: than, ADN và virus.
Năm 1956, Rosalind vị ung thư
buồng trứng và mất năm 1958, lúc chỉ mới 37 tuổi, 4
năm trước khi Watson, Crick và Wilkins đoạt giải
Nobel . Chua chát thay, trong bài diễn văn lãnh
giải, họ không một lời tôn vinh cô, người lẽ ra phải
được giải thay M. Wilkins nếu cô còn sống đến năm
1962 !
 |
 |
 |
Francis
Harry Compton Crick |
James
Dewey Watson |
Maurice
Hugh Frederick Wilkins |
1/3 giải thưởng |
1/3 giải thưởng |
1/3 giải thưởng |
United Kingdom |
USA |
United Kingdom
và New Zealand |
MRC Laboratory of Molecular
Biology
Cambridge, United Kingdom |
Harvard University
Cambridge, MA, USA |
London University
London, United Kingdom |
Sinh năm 1916
Mất năm 2004 |
Sinh năm 1928 |
Sinh năm 1916, New Zealand
Mất năm 2004 |
Bài diễn văn lễ phát giải Nobel
Hình của
Nobel.se |