Những bài cùng tác giả
Kỷ niệm 200 năm thuyết tiến hóa của Darwin
Thời thanh thiếu niên - Kỷ niệm sinh
nhật 200 năm
Từ lúc
thiếu thời tôi có mong muốn mãnh liệt nhất, là hiểu và giải thích được bất
cứ cái gì tôi quan sát thấy, nghĩa là xếp được tất cả những dữ kiện được vào
các định luật phố quát nào đó.
Trong
chừng mực tôi có thể phán đoán được, tôi không tuân theo sự lãnh đạo của
người khác một cách dễ dàng và mù quáng. Tôi luôn luôn nỗ lực giữ cho tinh
thần mình được tự do, để có thể từ bỏ bất cứ giả thuyết nào cho dù tôi có
yêu thích nó tới đâu khi có những chứng cứ đi ngược lại nó.
Charles DARWIN


UNESCO đã tuyên bố chọn 2009 là Năm Charles Darwin để
kỷ niệm sinh nhật thứ 200 của nhà sinh học đã có ảnh hưởng vô cùng to lớn sự
phát triển khoa học của nhân loại, và kỷ niệm 150 năm ngày phát
hành cuốn sách "On the Origin of the Species" (Nguồn gốc của các
chủng loài)Đối với Alexander von Humboldt trước ông, và đối với ông,
khoa học là một cuộc thám hiểm. Với 22 tuổi ông đã bắt đầu cuộc hành trình
thám hiểm thế giới trên chiếc tàu “Beagle” kéo dài từ 27.12.1831 –
2.10.1836, tức ngót 5 năm liền. Người ta tính rằng xác suất để ông sống sót
và trở về đất liền là không đáng kể. Nhưng định mệnh đã mang con người độc
đáo này an toàn trở lại nước Anh. Một cuộc hành trình vĩ đại, để mang lại
những kết quả khám phá vĩ đại: thuyết tiến hóa của các chủng loài, bao gồm
cả con người. “Nguồn gốc của các chủng loài” được xuất bản lần đầu
tiên năm 1859, là một sự kiện lịch sử, 1250 bản in lần đầu tiên đã bán hết
sạch nội trong ngày! Cuốn sách đã làm cả thế giới rún động, và phá hủy hình
ảnh thế giới được nhân loại xem như bất khả xâm phạm từ bao đời, đưa Darwin
từ chỗ ẩn cư lên vũ đài khoa học thế giới. Nhưng để có tác phẩm đó, ông đã
phải cần đến 20 năm để đánh giá các điều quan sát của mình thu lượm được
trong cuộc hành trình, và sau một thời gian đắn đo trước khả năng quyển sách
sẽ “giết chết” nhiều huyền thoại tôn giáo!
 |
Ảnh bìa của cuốn sách “Nguồn gốc của các chủng loài bằng sàn
lọc tự nhiên, hay là sự bảo tồn các giống loài có lợi thế trong cuộc
chiến đấu cho sự tồn tại.” Quyển sách này vừa được NXB Tri Thức
chuyển ngữ cho độc giả Việt nam, lần đầu tiên sau đúng 150 năm! Một sự
“lệch giờ văn hóa” kinh khủng, mặc dù quả đất chỉ có 24 múi giờ. |
Darwin là ai, con người như thế nào mà làm được những chuyện
vĩ đại như thế? Chúng ta hãy nghe ông tự thuật, những lời ông viết ra như
tâm sự cho con cháu ông để hiểu ông hơn, và cho đời sau hiểu sự phát triển
của tinh thần và tính chất của ông hơn. Chúng ta hãy lần theo cuộc đời và
những trải nghiệm của ông của thời niên thiếu. Các hiểu biết này có một giá
trị giáo dục lớn.
Charles Darwin sinh ra ngày 12.2.1809 tại tỉnh nhỏ Shrewsbury
phía Tây nước Anh, trong một căn nhà có tên Mount (núi, vì được xây trên
đỉnh một ngọn đồi), là đứa con thứ năm trong sáu anh chị em. Bố ông là bác
sĩ, và rất thành công với tư cách bái sĩ tâm lý. Mẹ ông mất sớm, lúc ông vừa
hơn tám tuổi, cũng giống như bố ông cũng mất mẹ sớm lúc lên bốn. Ngay từ
nhỏ, ông đã có sở thích đặc biệt về lịch sử tự nhiên và thu thập, và theo
đuổi kiên trì những sở thích bẩm sinh của mình.
Vào thời gian Darwin sinh ra, phần lớn các nhà
khoa học đều nghĩ rằng, các chủng loài sinh vật và thực vật là bất biến, mặc
dù đã có những suy nghĩ về sự tiến hóa cho các sinh vật, riêng con người thì
không. Ông nội của Darwin là Erasmus Darwin, cũng như Lamarck, đã giả đoán
rằng các sinh vật phát triển lên cao hơn từ các động lực bên trong của
chúng. Erasmus Darwin còn giả thiết rằng các sinh vật phát triển lên cao hơn
qua các điều kiện sống cạnh tranh, và sự sống còn của các thành viên có sức
sống cao, thích nghi hơn. Ngoài sự thừa hưởng tinh thần khoa học của ông
nội, Charles Darwin còn thừa hưởng tinh thần bền chí của ông cậu Josiah
Wedgwood (và là bố vợ sau này).
“Tôi tìm cách biết tên của các loài hoa, và thu thập tất cả
mọi thứ có thể có, sò, con dấu, tem, tiền xu, và đá khoáng. Niềm đam mê thu
thập, điều đưa con người trở thành một nhà nghiên cứu tự nhiên một cách hệ
thống, một người yêu nghệ thuật hoặc một người hà tiện, đã phát triển rất
mạnh trong tôi, và rõ ràng là bẩm sinh, điều các anh chị tôi không có.”
Trong học hành, ông được người ta bảo là chậm chạp, và “Tôi tin rằng, về
nhiều phương diện, tôi là một đứa trẻ nghịch ngợm”. Ông thú nhận rằng “tôi
thích bịa ra những chuyện không thật, cốt để gây sự náo động. Chẳng hạn một
lần tôi hái nhiều trái cây ngon từ vườn cây của bố tôi và đem dấu chúng
trong một bụi rậm. Sau đó tôi chạy đi hơi hãi phao tin rằng tôi đã khám phá
được một đống trái cây hái trộm.”

Bốn loài chim fink của cùng một họ chim sẻ ở Nam Mỹ,
nhưng trải qua những điều kiện sống khác nhau trên các hòn đảo Galapagos mà
chúng phải thích nghi, chúng đã phát triển những hình dạng mỏ đặc trưng khác
nhau. Đây chính là “nguồn gốc của tất cả ý tưởng của tôi” về sự tiến
hóa các chủng loài, như Darwin viết trong tự truyện. Các chủng loài, kể cả
con người, không được tạo ra một lần hoàn chỉnh và bất biến như trong
Kinh thánh mà luôn luôn chịu sự tiến hóa do những điều kiện sinh tồn đặt
ra.
Hè 1818 ông đi vào trường lớn của TS Butler tại Shrewsbury và
học ở đó 7 năm liền. Ông được kể là người thích đi dạo cô đơn với những suy
nghĩ của mình, mặc dù ông không còn nhớ ông suy nghĩ những gì. Ông có cái
thú lớn đi câu cá hằng giờ liền bên bờ sông hay hồ. Trong học hành ông vẫn
là một cậu bé bình thường. Ông nhớ lại về thời gian qua ở trường: “Không có
gì có thể còn xấu cho sự phát triển của trí óc tôi hơn là cái trường của TS
Butler, bởi vì nó rất ư là cổ điển, không dạy cái gì khác hơn là các loại cổ
ngữ và một ít địa lý và lịch sử cổ đại. Trường học là một nơi để giáo dục,
điều đó đối với tôi là hoàn toàn lạ thường. Trong cả cuộc đời, tôi hoàn toàn
bất lực trong việc học thành thạo một ngoại ngữ.[…] Chỉ có một vui thích duy
nhất mà tôi cảm nhận được từ những buổi học tập như thế là vài đoản ca của
Horace mà tôi thật sự ngưỡng mộ.”
Rồi ông viết tiếp: “Khi rời nhà trường, tôi không thuộc loại
giỏi hay kém ở lứa tuổi đó; và tôi tin rằng tôi được tất cả các thầy và cha
tôi xem như một cậu bé rất bình thường, có phần thấp hơn tiêu chuẩn trung
bình về mặt trí tuệ là khác. Tôi cảm thấy nhục nhã sâu sắc khi bố tôi một
lần nói với tôi: Cậu chẳng quan tâm gì khác hơn là săn bắn, chó, và bắt
chuột, và cậu sẽ là một sự sỉ nhục cho chính cậu và cho cả gia đình cậu.”
Nhưng bố ông, là người tốt bụng nhất mà ông biết được như ông nói, là người
ông yêu mến nhất trong ký ức ông, “có lẽ đã giận dữ và có phần không công
bằng với tôi khi ông dùng những từ như thế.”
Nhìn lại tư chất của ông trong thời gian ngồi ghế nhà trường,
ông nhận định “những đặc tính duy nhất của giai đoạn này, những cái đem lại
sự hứa hẹn cho một cái gì tốt cho tương lai, đó là ông có được nhiều sở
thích khác nhau được phát triển mạnh mẽ cũng như nhiệt tâm cho tất cả những
gì ông có cơ hội quan tâm đến, và có niềm vui sôi nổi khi hiểu được một đề
tài hay một đối tượng phức tạp nào đó.” Ông rất thích thú khi được thầy giáo
tư dạy những phần chứng minh hình học euclid một cách sáng sủa, hay được cắt
nghĩa về nguyên lý của thước chạy của khí áp kế. Về những sở thích khác độc
lập với khoa học, ông đọc nhiều loại sách, có thể ngồi hàng giờ và đọc các
vở kịch lịch sử của Shakespeare, thường tại một cửa sổ trong những bức tường
của trường học. Ông cũng đọc những tác phẩm thi ca của Thomson, Byron và
Scott. “Tôi nhắc những điều này bởi vì sau này, một điều đáng tiếc cho tôi,
tôi mất hết niềm vui về tất cả các loại thi ca, kể cả Shakespeare.”
Ông đọc đi đọc lại quyển “Những điều kỳ diệu của thế giới” từ
một người bạn học. Có lẽ quyển sách này lần đầu tiên đã làm nảy nở ở ông ao
ước muốn đi đến những vùng xa xôi. Ông tiếp tục sưu tầm đá khoáng, đi săn và
sưu tầm côn trùng và trứng chim, nhưng ông chỉ lấy một trứng từ mỗi tổ. Gần
cuối thời gian học, ông được phép tham gia vào các thí nghiệm hóa học với
người anh Erasmus trong một phòng thí nghiệm tự tạo trong nhà kho dụng cụ
trong vườn của nhà bố mẹ. Sinh hoạt đó đã giúp ông đọc tỉ mỉ nhiều sách hóa
học và học được cách chế tạo được khí và nhiều loại hợp chất. “Đó là phần
tốt nhất của giáo dục đối với tôi trong thời gian ở nhà trường, bởi vì nó
cho tôi thấy cụ thể ý nghĩa của khoa học thực nghiệm.” Việc này đến tai ngài
hiệu trưởng Butler khiến Darwin bị khiển trách công khai, yêu cầu ông bỏ
những việc làm vô bổ đó, và gọi ông là “người thờ ơ”.

Bản đồ lộ trình của Darwin với tàu Beagle
Mùa thu 1825, khi thấy cậu học sinh Charles chẳng học hành gì
tốt, ông bố có quyết định “khôn ngoan”, như Darwin bảo, kéo ông sớm ra khỏi
trường của TS Butler để gửi ông lên Đại học Edinburgh với mục đích học y
khoa, cùng với anh ông, nơi mà bố và ông nội ông đã biết tiếng tăm về khoa
học. Đại học này được thành lập năm 1582 và đã có thời kỳ cực thịnh về khoa
học và y khoa ở thế kỷ 18. Nhưng đó là quá khứ. “Các bài giảng là cực kỳ
buồn tẻ” trừ bài giảng về hóa của GS Hope, một học trò của Lavoisier cà
Dalton. Ông chứng kiến hai cuộc phẫu thuật, lúc bấy giờ chưa có thuốc gây
mê, và phải bỏ đi không thể nào xem tiếp, và quyết định không tiếp tục ngành
này nữa. Ông tin rằng bố ông sẽ có đủ gia tài chia cho ông để có một cuộc
sống tương đối đàng hoàng, và trở thành một nhà nghiên cứu khoa học độc lập.
Ông chuyển qua quan tâm hơn về các môn khoa học khác, giao du kết bạn với
những người yêu khoa học, trong các lãnh vực địa chất, động vật học, và thực
vật học, tham gia các chuyến đi nghiên cứu dã ngoại. Ông thích thú gia nhập
“Hội Plinius” (được thành lập năm 1823 bởi Robert Jameson theo tên của một
nhà văn và nghiên cứu tự nhiên của Rom), một sân chơi của các sinh viên
nghiên cứu và thảo luận về các đề tài khoa học. Ông có hai phát hiện bằng
mắt thường, một về trứng của một loại sinh vật rêu lá, và một về trứng của
một loại sinh vật nước nhỏ, nhưng cả hai thực ra chuyển động được và đều là
ấu trùng. Ông trình bày tại Hội Plinius. Những khám phá đầu tiên này làm ông
càng phấn khởi trong nghiên cứu khoa học. Ông được gia nhập The Royal
Society (Hàn lâm viện Anh này đã vinh danh ông năm 1864 với Huân
chương-Copley, và từ 1890 tặng thưởng Huân chương-Darwin như một giải đặc
biệt). Lần đầu tiên ông nghe TS R.Grant thuyết minh say sưa về những ý tưởng
của Lamarck về sự biến đổi các giống loài, nghe trong một sự “ngạc nhiên
lặng thinh”. Ông nhớ lại những ý tưởng này lúc đó không có ảnh hưởng gì lên
ông trực tiếp, nhưng chắc chắn sau này nó sẽ làm cho sự phát triển các ý
tưởng của ông về nguồn gốc các chủng loài thuận lợi hơn.
Những kỳ đi săn bắn vào mùa hè tại Maer nơi gia đình ông cậu
ông, Jos (Josiah Wedgwood), và những buổi chiều ở đó đã để lại cho ông những
cảm xúc sâu sắc. Cuộc sống ở đó hoàn toàn tự do, và cảnh vật rất đẹp, thích
hợp cho đi dạo cũng như cho cỡi ngựa. Buổi tối có những cuộc trò chuyện dễ
chịu, và âm nhạc. Ông săn bắn say sưa và làm một nhật ký về chim. Săn nhiều
đến nỗi ông phải thấy cắn rứt lương tâm, mặc dù ông tự thuyết phục rằng đó
cũng là hoạt động trí óc. “Không gì để lại một hình ảnh sống động hơn trong
tâm hồn tôi bằng nhưng buổi tối ở Maer. Tôi bám theo ông cậu Jos tôi với
tình yêu và sự ngưỡng mộ sâu sắc; ông ấy ít nói và nhúng nhường, cho nên
người ta nhìn ông với một sự rụt rè tôn kính; đôi khi ông nói chuyện với tôi
rất cởi mở và tự do. Ông là típ người thẳng thắn với những ý kiến sáng sủa
nhất. Tôi tin rằng không có quyền lực nào trên quả đất có thể khiến ông rời
khỏi dù một tấc con đường ông cho là đúng đắn.”
 |
Tàu Beagle tại đường biển Magellan (1834), là tàu buồm có
với nhiệm vụ đo đạt, nặng 235 tấn, có 3 cột buồm, 6 ghe cứu hộ, 10
khẩu cà nông, có tổng cộng 66 người phải sống chung trong một không
gian chật hẹp. Darwin được ưu đãi cùng chia phòng cabin với
thuyền trưởng Fritz-Roy. |
Bố của Darwin thấy việc học y khoa không xong, một lần nữa
muốn cải thiện đường học vấn của con mình nên quyết định cho con học…thần
học để làm mục sư! Tuy nghề này không nằm trong truyền thống của gia đình vốn
gồm bác sĩ, luật sư và nhà giáo, nhưng cũng không phải là tồi. Bởi vì nghề
mục sư vẫn còn chừa lại khá nhiều thời gian, và thời ấy không thiếu những
mục sư nghiên cứu khoa học như một hobby.
Thế là Darwin được gửi đến đại học Cambridge, có một căn
phòng tại Christ College, để học làm mục sư. Đây là đại học rất lâu đời và
nổi tiếng, được thành lập từ thế kỷ 12. Sau này ông nghĩ lại về quyết định
học thần học: “Khi tôi nghĩ đến việc tôi bị những người chính thống (tôn
giáo) tấn công dữ dội như thế nào, thì việc tôi mong muốn trở thành mục sư
là buồn cười.”
Nhưng rồi “Trong thời gian 3 năm ở Cambridge, thời gian của
tôi cũng hoàn toàn bị phung phí như ở Edinburgh và trong trường học”, “thời
gian của tôi bị phung phí một cách đáng buồn, và còn nghiêm trọng hơn là
phung phí.” Ông tự học là chính, và cuối cùng cũng thi đậu “một cách dễ
dàng”. “Không có công việc nào ở Cambridge được theo đuổi một cách nhiệt
tình, và không công việc gì làm tôi vui nhiều như việc sưu tầm bọ.” Để có
một bằng chứng về nỗi đam mê này, ông kể một trải nghiệm sau đây: “Một ngày
nọ khi bốc một miếng vỏ cây già ra, tôi thấy hai con bọ hiếm trong đó và bắt
ngay mỗi chú vào một tay. Thình lình một chú bọ thứ ba xuất hiện, cũng là
một giống mới. Vì không chịu nổi để mất, tôi liền bỏ chú bọ bên tay phải vào
miệng. Rất tiếc nó tiết ra một dịch vị làm cay lưỡi quá, buộc tôi phải phun
nó ra; chú đó mất, và cả chú thứ ba cũng bị mất luôn.”
Trong thời gian ở Cambridge, hè ông đi sưu tầm bọ, thu ông đi
săn. “Ba năm ở Cambridge là ba năm vui thú nhất của cuộc đời hạnh phúc của
tôi; vì lúc đó tôi có sức khỏe tốt nhất, và cũng gần như ở trong tâm trạng
tốt nhất.”
“Một người có ảnh hưởng hơn ai hết lên cả sự nghiệp” của
Darwin là GS Henslow, nhà thần học vừa là giáo sư thực vật học. Trong vòng
nửa thời gian cuối ở Cambridge ông đã dành phần lớn thì giờ để đi dạo dài
hơi với Henslow. Ông này có kiến thức rộng về không những thực vật học, mà
còn cả về côn trùng học, hóa học, khoáng vật học và địa chất học, và có biệt
tài suy luận, rút ra được kết luận từ những quan sát li ti, điều mà sau này
Darwin sẽ áp dụng. Một nhân vật thứ hai có ảnh hưởng quan trọng lên Darwin
là Adam Sedgwick, GS địa chất học tại Cambridge và là bạn tuổi bố của
Darwin. Ông này đã chứng minh cho Darwin thấy rằng “Khoa học là sự tổng hợp
lại của các dữ kiện, để có thể suy ra từ đó các định luật phổ quát hay kết
luận” như Darwin nhận định. Đó cũng là con đường Darwin sẽ đi.
Năm cuối ở Cambrigde ông đọc quyển sách của Alexander von
Humboldt “Kể chuyện cá nhân” (personal narrative) về các cuộc thám hiểm thế
giới với sự chú ý và thích thú lớn. “Cuốn sách này và cuốn sách của Sir J.
Herschel ‘Nhập môn nghiên cứu triết học tự nhiên’ (Introduction to the Study
of Natural Philospophy) đã đánh thức trong tôi mong ước cháy bỏng có được
một đóng góp, cho dù đó là khiêm tốn nhất, cho tòa nhà cao cả của khoa học.
Không một quyển sách nào khác, hoặc cả chục quyển sách khác, có một tác dụng
như thế lên tôi như hai quyển sách trên.”
Ông suy nghĩ thật sự nghiêm túc và hỏi thăm khả năng tàu đi
biển. Chuyến tàu Beagle sắp tới đã đáp đúng ý nguyện ông lúc đó.
“Khi vừa về đến nhà từ chuyến đi nghiên cứu dã ngoại ở
Nordwales, tôi tìm thấy thư của Henslow thông báo rằng thuyền trưởng
Fritz-Roy sẳn sàng nhường một phần của cabin riêng của ông cho một người trẻ
tuổi thích cùng đi với ông trên con tàu Beagle với tư cách là một nhà nghiên
cứu khoa học tự nguyện mà không ăn lương.” Darwin liền chớp ngay cơ hội này.
Nhưng ông bố quan ngại, và thật hạnh phúc cho ông biết bao, khi ông bố nói
thêm về điều kiện: “Nếu cậu có thể tìm được một người có lý trí lành mạnh
khuyên cậu nên đi, thì tôi sẽ cho phép cậu đi.” Và người có “lý trí lành
mạnh” kia để khuyên nên cho Charles Darwin đi không ai khác hơn là ông cậu
Jos của Darwin.
Ngày 27.12.1831 Darwin lên đường cùng với chiếc tàu lịch sử
Beagle cho một cuộc hành trình kéo dài 5 năm, đi qua các nơi Cape
Verde Islands, Brazil,
Tierra del Fuego, các đảo Falken, Achentina,
Chile, các đảo Galapagos, Tahiti, Tân Tây Lan, Úc, Tasmania, Mauritius, Cape
town…“Chuyến đi trên tàu Beagle là sự kiện quan trọng nhất
trong đời tôi và đã quyết định cả sự nghiệp của tôi….Tôi luôn cảm nhận, rằng
tôi phải cám ơn chuyến đi cho sự giáo dục và rèn luyện trí tuệ tôi. Tôi được
dịp chú ý bao quát nhiều ngành lịch sử tự nhiên, và qua đó đã nâng cao năng
lực quan sát của tôi, mặc dù nó đã phát triển tốt.” Ông cho đó là “cuộc đời
thứ hai” của ông, và ngày ra khơi sẽ là “ngày sinh nhật thứ hai”. Tuy nhiên,
ông phải chiến đấu ghê lắm với say sóng, với nỗi nhớ nhà day dứt, và cuộc
sống chật hẹp trên chiếc tàu; nếu không luôn có tiến bộ mới khoa học mang
lại niềm vui, chắc chắn ông không chịu nổi cuộc hành trình 5 năm.

Cuốn sách “Nguồn gốc của các chủng loài” được xuất bản
thì Darwin cũng vừa 50 tuổi. Cũng như Copernic trước đó hay Einstein sau
này đã nhận ra các quy luật của các vì sao và vũ trụ, Darwin đã nhận ra quy
luật cơ bản cũa thế giới sống. Ông kết luận cuốn Nguồn gốc của các chủng
loài bằng những lời lẽ như sau: “Từ cuộc chiến đấu của thiên nhiên, từ
đói khổ và chết chóc, đã trực tiếp nẩy sinh ra cái cao nhất mà chúng ta có
thể hình dung được: sự sinh ra các sinh vật luôn luôn cao hơn, hoàn thiện
hơn. Đó quả là một cái gì cao cả trong cái nhìn về cuộc sống, rằng Tạo hóa
đã thổi cái mầm của tất cả sự sống quanh ta vào một ít hình thái hoặc một
hình thái duy nhất, và rằng, trong khi hành tinh này quay tròn theo định
luật cố định của hấp lực, thì từ một cái ban đầu đơn giản như thế đã hình
thành vô số hình thái đẹp nhất và kỳ diệu nhất.”
Cuốn sách gây ra một cơn bão với vô số tranh cãi dữ dội, nhất
là từ phía nhà thờ. Trong một lần họp của British Association for
Advancement of Science (Hội Anh về Tiến bộ khoa học) vào tháng 9 năm
1860 tại Oxford, dưới sự chủ trì của GS Henslow, đã có một cuộc xung đột dữ
dội giữa Giám mục Samuel Wilberforce và Thomas Huxley, một trong những người
ủng hộ kiên quyết thuyết tiến hóa của Darwin. Darwin vì lý do sức khỏe không
có mặt. Wilberforce đã đẩy bài diễn thuyết của mình lên đỉnh cao của sự căng
thẳng bằng câu hỏi, ngài Huxley có dửng dưng hay không nếu ngài có một chú
khỉ là ông tổ của mình. Huxley đã nhanh trí trả lời: “Nếu câu hỏi được đặt
ra cho tôi, rằng tôi thích chấp nhận một con khỉ tồi tàn làm ông tổ, hơn là
chấp nhận một con người cực kỳ thông minh qua thiên nhiên, có tầm quan trọng
và ảnh hưởng lớn, nhưng con người ấy sử dụng những năng lực và ảnh hưởng của
mình để mang trò hề vào cuộc thảo luận khoa học, thì tôi sẽ không do dự xác
nhận sự ưu ái của tôi cho chú khỉ kia.” Từ 1862 Huxley diễn thuyết đại chúng
tại đại giảng đường của Viện địa chất, và từ 1866 có các “Bài giảng tối chủ
nhật” được đông đảo người đến nghe, và có cả “2000 người không còn chỗ”.
Karl Marx cũng là một trong những người cùng với gia đình đến nghe.
Darwin cho rằng cá nhân mình không phải là típ người thông
minh đặc biệt, mà rất bình thường, chỉ có lòng kiên nhẫn và tình yêu đối với
khoa học là quyết định. Ông nói: “Tình yêu khoa học – Lòng kiên nhẫn không
giới hạn để suy nghĩ dài hơi về một đề tài nào đó – Sự siêng năng trong quan
sát và sưu tập – và một mức độ bình thường của óc sáng tạo cũng như của lý
trí lành mạnh. Với những khả năng vừa phải như thế, như những điều tôi có,
thì thật là điều đáng ngạc nhiên, rằng tôi đã ảnh hưởng được dư luận của các
nhà khoa học về vài vấn đề quan trọng ở mức độ đáng kể.” Một người nữa cũng
có những nhận xét tương tự như thế về tài năng của mình, đó là Albert
Einstein.
10/2/2009
Đã đăng trên Viet-Studies
©
http://vietsciences.free.frr
và http://vietsciences.org
Nguyễn Xuân Xanh
|