Những bài cùng tác giả
Biển rộng trời
cao ta vút bay
Hải khoát
thiên không
ngã tự phi
海 闊 天 空 我 自
飛
 |
Phùng
Hữu Lan
(1895-1990) |
Triết gia
kiêm triết
học sử gia
trứ danh
Phùng Hữu
Lan
馮 友 蘭
tự là Chi
Sinh
芝 生,
sinh ngày 4
tháng 12 năm
1895 tại
trấn Kỳ Nghi
祁 儀,
huyện Đường
Hà
唐 河,
tỉnh Hà Nam
河 南.
Tổ tiên ông
quê ở huyện
Cao Bình
高 平,
tỉnh Sơn Tây
山 西
; vào những
năm Khang Hi
đời Thanh,
các cụ đã di
cư đến Đường
Hà mà kinh
doanh. Trải
hơn trăm
năm, họ
Phùng của
ông trở nên
thế gia vọng
tộc ở nơi
này. Cha ông
tên Phùng
Đài Dị
馮 臺 異,
tự Thụ Hầu
樹 侯,
hiệu Phục
Trai
復 齋,
đỗ tiến sĩ
khoa thi năm
Mậu Tuất
(1898) tức
năm Quang Tự
23. Bác trai
và chú ông
đều đỗ tú
tài. Cha ông
giữ nhiều
chức vụ và
từng làm tri
huyện ở Sùng
Dương
崇 陽,
tỉnh Hồ Bắc
湖 北.
Mẹ ông tên
Ngô Thanh
Chi
吳 清 芝,
tự Tĩnh Nghi
靜 宜,
thạo văn
chương, rộng
kiến thức,
đảm việc
nhà; từng
làm giám học
ở trường nữ
Đoan Bản
端 本
tại Đường
Hà.
Sinh bình,
Phùng Hữu
Lan yêu quý
nhất ba
người phụ
nữ: mẹ, vợ,
và con gái.
Đối với mẹ,
ông rất hiếu
kính và vô
cùng khâm
phục. Ông
từng viết:
«Mẹ tôi là
người mà
trọn đời tôi
kính phục
nhất, cũng
là người
gieo nhiều
ảnh hưởng
cho tôi
nhất.»
Do đó có thể
hiểu vì sao
ông lấy tên
tự là Chi
Sinh (mẹ ông
tên Ngô
Thanh Chi).
Tại Trung
Quốc cuối
thế kỷ XIX
đầu thế kỷ
XX, một phụ
nữ có học
vấn uyên bác
như bà thật
là hiếm.
Ngay từ lúc
ông còn bé
thơ bà đã
dạy kinh
điển Nho
giáo cho
ông. Khi
Phùng Hữu
Lan lên 13
tuổi, cha
ông do bệnh
mà mất; mẹ
ông vừa là
từ mẫu vừa
đóng vai
nghiêm phụ
nuôi dạy anh
em ông thành
tài. Em trai
ông là Phùng
Cảnh Lan
馮 景 蘭,
một nhà địa
chất, và em
gái ông là
Phùng Nguyên
Quân
馮 沅 君,
một nữ tác
gia và cũng
là một nhà
nghiên cứu
về văn học
cổ điển.
 |
Toàn gia
đình
Phùng
Hữu Lan
(ảnh
chụp năm
1935
nhân
chuyến
về thăm
quê Hà
Nam) —
Hàng sau
từ tráí
sang
phải:
Nhiệm
Tải Khôn
(vợ),
Ngô
Thanh
Chi
(mẹ).
Hàng
trước:
trưởng
nữ
Chung
Liễn,
trưởng
nam
Chung
Liêu,
thứ nữ
Chung
Phác
(tức
Tông
Phác),
thứ nam
Chung
Việt. |
Trường hợp
Phùng Hữu
Lan khiến
người ta
liên tưởng
Hồ Thích
胡 適
(1891-1962).
Cả hai đại
học giả này
đều thuộc
giòng dõi
nhà quan,
thế gia sĩ
tộc, đều sớm
mồ côi cha –
Phùng Hữu
Lan mồ côi
lúc 13 tuổi,
Hồ Thích mồ
côi lúc vừa
lên 4 – và
chịu ảnh
hưởng của mẹ
rất sâu đậm
theo hai
cách khác
nhau.
Mẹ của Hồ
Thích họ
Phùng, hai
năm sau khi
kết hôn với
cha ông là
Hồ Thiết Hoa
thì sinh ra
ông. Cha ông
tên là Phó,
tự là Thiết
Hoa, từng
làm quan
nhiều nơi
như Đông Tam
Tỉnh, Quảng
Đông, v.v...
cuối cùng là
làm tri châu
của châu
Trực Lệ ở
Đài Đông
(thuộc Đài
Loan). Trong
hồi ức của
mình, ông kể
lại những
năm tháng
ngắn ngủi
được mẹ dạy
dỗ sau khi
cha đã mất.
Khi cha ông
mất, mẹ ông
mới 23 tuổi
và ông vừa
lên 4. Hồ
Thích từng
tâm sự: «Tôi
được mẹ
thương yêu
dạy dỗ
nghiêm khắc
được 9 năm,
chịu ảnh
hưởng rất
sâu đậm của
mẹ. Khi tôi
14 tuổi
(thực ra là
12 tuổi 3
tháng) thì
phải rời mẹ
mà đi học xa
hơn 20 năm
không ai
quản thúc.
Nếu tôi học
tập được mảy
may tính
chất tốt đẹp
nào, nếu tôi
học tập được
thái độ ôn
hoà trong cư
xử với tha
nhân, nếu
tôi có thể
khoan dung
thứ tha được
người khác,
thì tất cả
là nhờ ở mẹ
hiền của tôi
mà có.»
Sự khác biệt
giữa hai bà
từ mẫu ở
chỗ: Mẹ của
Phùng Hữu
Lan là phụ
nữ trí thức,
học vấn uyên
thâm, tinh
thông Nho
học; còn mẹ
Hồ Thích là
phụ nữ ít
học, lúc lập
gia đình còn
chưa biết
chữ. Hồ
Thích đã
viết trong
hồi ức của
ông: «Sau
khi kết hôn
không lâu,
cha tôi đưa
mẹ tôi đến
chung sống
tại Thượng
Hải, giúp mẹ
tôi thoát
cảnh khổ sở
của một đại
gia đình.
Cha rất yêu
mẹ. Dù bận
bịu trăm
công ngàn
việc, nhưng
cha vẫn dành
thời giờ để
dạy mẹ tôi
nhận biết
mặt chữ Hán.
Những năm ấy
gia đình cực
kỳ hạnh
phúc. Thuở
thơ ấu, tôi
rất được cha
yêu thương
chìu chuộng.
Khi tôi chưa
đầy ba tuổi,
cha tôi lấy
những tờ
giấy hồng
điều có viết
chữ Hán mà
cha đã từng
dạy cho mẹ
đem ra dạy
lại cho tôi.
Cha là thầy
giáo của tôi
và mẹ tôi
đứng bên
cạnh làm phụ
giảng. Khi
tôi học chữ
mới thì mẹ
cũng có dịp
ôn lại những
chữ mẹ đã
học. Lúc cha
quá bận rộn
thì mẹ thay
cha dạy chữ
cho tôi.»
Nhờ sự giáo
dục nghiêm
khắc về đạo
đức và nhân
cách do bà
mẹ ấy mà về
sau Hồ Thích
trở thành
một học giả
danh tiếng.
 |
Hồ Thích
(1891-1962) |
Trở lại
trường hợp
của Phùng
Hữu Lan,
ngoài mẹ,
còn hai
người phụ nữ
nữa mà ông
rất mực yêu
quý đó là vợ
và con gái.
Vợ ông là nữ
sĩ Nhiệm Tải
Khôn
任 載 坤,
tự
là Thúc Minh
叔 明,
thành
thân với ông
năm 22 tuổi
(nhỏ hơn ông
một tuổi).
Hưởng ứng
phong trào
Ngũ Tứ, bà
cùng với ông
sáng lập tạp
chí
Tâm Thanh
心 聲
(tiếng
lòng). Bà
vừa là đồng
chí, vừa là
nội tướng;
chăm sóc và
cùng vui
hưởng hạnh
phúc cũng
như sẻ chia
hoạn nạn với
ông suốt 60
năm. Khi ông
lâm đại nạn
trong đại
cách mạng
văn hoá (Văn
hoá đại cách
mệnh
文 化 大 革 命,
gọi
tắt là Văn
Cách), do
quá thương
tâm bà đã
lâm trọng
bệnh và từ
trần lúc 82
tuổi, ra đi
trước ông 13
năm. Trong
cảnh chiều
tàn bóng xế,
bệnh hoạn và
hiu quạnh
nơi Tam Tùng
Đường
三 松 堂
thuộc vườn
Yến Nam
燕 南
của
Đại học Bắc
Kinh, ông
chỉ còn chút
niềm ủi an
nơi người
con gái hiếu
thảo hết
lòng chăm
nom phụng
dưỡng, tên
là Chung
Phác 鐘 璞.
Với truyền
thống nữ sĩ
như bà nội,
dì, và mẹ,
bà là một
tác gia với
bút danh
Tông Phác
宗 璞.
●
Cuộc đời
Phùng Hữu
Lan có thể
tạm chia làm
ba thời kỳ:
(1) Thời
kỳ tự hiện
thực hoá bản
thân
(self-actualization):
từ lúc thơ
ấu, học tập
đến khi tốt
nghiệp tiến
sĩ Đại học
Columbia, về
nước giảng
dạy và trứ
tác đến
1948.
(2) Thời
kỳ đánh mất
bản ngã:
từ 1949 đến
khi Văn Cách
kết thúc
(1976). Thời
này ông buộc
phải tự phủ
nhận mình,
phủ nhận các
tác phẩm đã
viết, buộc
phải viết
lách ca tụng
trào lưu tư
tưởng đương
thời, cho
nên gọi là
đánh mất bản
ngã (thất
lạc tự ngã
失 落 自 我
); rồi bị
bức hại
trong Văn
Cách
(1966-1976).
(3) Thời
kỳ trở về
bản ngã:
từ 1977 cho
đến khi bệnh
mất (1990).
Sau khi Văn
Cách kết
thúc, nhân
phẩm được
phục hồi,
ông mới tự
do viết lách
và nghiên
cứu theo ý
riêng của
mình; vì thế
gọi là trở
về bản ngã (hồi
quy tự ngã 回
歸 自 我).
Sự phân kỳ
này chỉ có
tính tượng
trưng để
tiện theo
dõi, thực tế
không hoàn
toàn chính
xác như vậy.
Thời kỳ tự
hiện thực
hoá bản thân
(1895-1948)
Khi vừa lên
6 tuổi,
Phùng Hữu
Lan học tư
thục. Theo
nếp cũ, ông
học qua các
sách Tam
Tự Kinh, Tứ
Thư, Thi
Kinh, và
Địa Cầu
Vận Ngôn
(môn địa lý
phổ thông
soạn bằng
văn vần).
Năm 9 tuổi,
ông theo mẹ
đến nhiệm sở
của cha tại
Vũ Xương
武 昌
(bấy giờ cha
ông dạy ở
Phương Ngôn
Học Đường
方 言 學 堂).
Ở đây, mẹ
ông dạy ông
Thư Kinh,
Dịch Kinh,
Tả Truyện,
Lễ Ký;
còn cha ông
dạy các môn
lịch sử và
địa lý (do
cha ông tự
biên soạn).
Năm 1912,
ông nhập học
lớp dự bị
của Đại học
Trung Quốc
Công Học ở
Thượng Hải
上
海 中 國
公 學 大 學
. Năm 1915,
ông học Văn
khoa (môn
triết học
Trung Quốc)
tại Đại học
Bắc Kinh và
tốt nghiệp
năm 1918.
Năm 1919,
ông sang Mỹ
du học ở Đại
học
Columbia.
Mùa hè năm
1923, ông đệ
trình tại
Đại học
Columbia
luận văn
tiến sĩ nhan
đề:
Nhân sinh lý
tưởng chi tỉ
giảo nghiên
cứu
人 生 理 想 之 比
較 研 究
(Nghiên cứu
so sánh lý
tưởng đời
người) cũng
có tên là
Thiên nhân
tổn ích luận
天 人 損 益 論
(Luận về sự
tổn hại và
lợi ích giữa
trời với
người); ông
bảo vệ thành
công luận
văn này, và
tốt nghiệp
với học vị
Tiến sĩ
triết học
(Ph.D.)
(1924). Luận
văn này –
nguyên tựa
là A
Comparative
Study of
Life Ideals
– được
Thương Vụ Ấn
Thư Quán
xuất bản
cùng năm
1924.
Ông về nước
vào mùa thu
năm 1924.
Sau đó, ông
bắt đầu
giảng dạy ở
Đại học
Trung Châu
(1924), Đại
học Quảng
Đông, Đại
học Yên Kinh
(1926), Đại
học Thanh
Hoa. Ở Đại
học Thanh
Hoa, ông làm
Chủ nhiệm hệ
Triết học
kiêm Viện
trưởng Viện
Văn học.
(Ông làm Chủ
tịch Ban
Thường Vụ
của Đại học
Thanh Hoa,
từ tháng
12-1948 đến
tháng
5-1949).
Cũng từ
1924, dựa
theo phương
hướng của
luận văn
Thiên nhân
tổn ích luận,
ông viết
Nhất chủng
nhân sinh
quan
一 種 人 生 觀
(Một quan
niệm về đời
người). Cũng
năm 1924
này, ông
viết lại
thành quyển
Nhân sinh
triết học
人 生 哲 學
(Triết học
về đời
người) để
làm tài liệu
giáo khoa
cho học sinh
trung học.
Trong sách
này, ông xác
lập một niềm
tin triết
học theo chủ
nghĩa hiện
thực mới
(Tân thực
tại chủ
nghĩa
新 實 在 主 義)
và kết hợp
Lý Học
理 學
của
Trình-Chu
với chủ
nghĩa hiện
thực mới.
 |
Phùng
Hữu Lan
(1895-1990)
và Giáo
sư Derk
Bodde
(1909-2003),
ảnh chụp
năm
1982. |
Trong thời
gian giảng
dạy triết
học tại Đại
học Yên
Kinh, ông
hoàn tất bộ
Trung Quốc
Triết học sử
中 國 哲 學 史
(quyển I năm
1931, quyển
II năm
1934). Bộ
sách này sau
đó trở thành
sách giáo
khoa bậc đại
học, như là
một cống
hiến trọng
đại trong
việc xây
dựng bộ môn
khoa học về
lịch sử
triết học
Trung Quốc.
Khi
Derk
Bodde
(1909-2003)
sang Bắc
Kinh du học,
ông học
Phùng Hữu
Lan trong
niên khoá
1934-1935
tại Đại học
Thanh Hoa.
Do tình sư
đệ này, Derk
Bodde đã lần
lượt dịch bộ
triết sử nói
trên sang
Anh ngữ và
xuất bản
(quyển I năm
1937, quyển
II năm
1953).
Từ 1939 đến
1946, ông
liên tiếp
xuất bản một
bộ sách sáu
quyển, gọi
là «Trinh
Nguyên Lục
Thư» 貞
元 六 書,
gồm:
Tân Lý Học
新 理 學
(1937),
Tân Thế Huấn
新 世 訓
(1940),
Tân Sự Luận
新 事 論
(1940),
Tân Nguyên
Nhân
新 原 人
(1942),
Tân Nguyên
Đạo
新 原 道
(1945), và
Tân Tri Ngôn
新 知 言
(1946).
Phùng Hữu
Lan sáng lập
hệ thống tư
tưởng Lý Học
mới, khiến
ông trở
thành một
triết gia
của Trung
Quốc hiện
đại có ảnh
hưởng rất
lớn.
Năm 1948,
ông tự viết
bằng Anh ngữ
quyển A
Short
History of
Chinese
Philosophy
– rút ngắn
bộ triết sử
(hai quyển)
nói trên –
và nhờ Derk
Bodde biên
tập lại,
xuất bản
cùng năm
này.
Trong thời
kháng chiến,
ông làm Viện
trưởng Viện
Văn học kiêm
Giáo sư hệ
Triết học
của Tây Nam
Liên Đại.
Năm 1946,
ông sang Mỹ
làm Giáo sư
thỉnh giảng.
Cuối 1948 và
đầu 1949,
ông làm Chủ
tịch Hội
nghị Hiệu vụ
của Đại học
Thanh Hoa.
Ông được
phong tặng
là Tiến sĩ
danh dự về
văn học của
các trường:
Đại học
Princeton
(Mỹ), Đại
học Columbia
(Mỹ), Đại
học Dehli
(Ấn Độ). Từ
1952, ông
làm Giáo sư
hệ Triết học
của Đại học
Bắc Kinh.
Ông từng làm
Uỷ viên của
Triết học Xã
hội Khoa học
Bộ (Bộ Triết
học và Khoa
học Xã hội),
thuộc Trung
Quốc Xã Khoa
Viện (Viện
Khoa Học Xã
Hội của
Trung Quốc).
Thời kỳ đánh
mất bản ngã
(1949-1976)
Những năm
1949-1960 là
thời kỳ tư
tưởng Phùng
Hữu Lan
chuyển biến
lớn. Nước
Cộng Hoà
Nhân Dân
Trung Quốc
được Đảng
Cộng Sản
Trung Quốc
thành lập
năm 1949. Kể
từ đó ông
buộc phải
gác bỏ hệ
thống Tân Lý
Học của mình
qua một bên,
rồi nghiên
cứu chủ
nghĩa Marx
và dùng chủ
nghĩa này để
nghiên cứu
lịch sử
triết học
Trung Quốc.
Năm 1949,
ông có lần
gởi thư cho
Mao Trạch
Đông, ngỏ ý
muốn dùng
chủ nghĩa
Marx mà viết
mới lại lịch
sử triết học
Trung Quốc.
Nhưng ông
không được
trả lời.
Tháng
8-1950, giới
tân trí thức
hưởng ứng
phong trào
«phê Lâm
phê Khổng»
(phê phán
Lâm Bưu và
Khổng Tử),
phê phán tư
tưởng Nho
giáo,
«bình Pháp
phê Nho»
(phê bình
Pháp gia và
Nho gia); do
đó họ bắt
đầu đấu tố
Phùng Hữu
Lan, phê
phán tư
tưởng của
ông, và ông
bắt đầu viết
kiểm điểm,
tự phê bình,
sám hối.
Phùng Hữu
Lan đã thú
nhận rằng,
hơn 10 năm
sau 1949,
những gì ông
viết ra đều
là sám hối.
Sám hối
những gì ông
đã từng viết
trước 1949
(trong đó có
hai bộ
Triết Sử
và Trinh
Nguyên Lục
Thư).
Phùng Hữu
Lan trở
thành tội
nhân ngay
buổi đầu của
cuộc Văn
Cách, tức
Đại Cách
Mạng Văn Hoá
(1966-1976).
Đại nạn của
Phùng Hữu
Lan chính
xác bắt đầu
từ tháng
6-1966 (bấy
giờ ông 71
tuổi). Ông
bị đấu tố,
phê bình là
«kẻ có uy
quyền về học
thuật phản
động của
giai cấp tư
sản». Ông bị
tịch biên
tài sản, bị
cách ly để
thẩm tra, và
bị cưỡng bức
lao động cải
tạo. Tháng 3
năm 1967,
Đại học Bắc
Kinh thành
lập cái gọi
là «Trạm
liên lạc để
phê bình
Phùng Hữu
Lan» (Phê
Phùng liên
lạc trạm).
Năm ông 73
tuổi (1968),
do có chỉ
thị của Mao
Trạch Đông,
ông được trả
về nhà,
nhưng tài
sản bị tịch
biên thì chỉ
trả lại có
một phần.
Thời kỳ trở
về bản ngã
(1977-1990)
Văn Cách
chấm dứt năm
1976. Trước
đó, ông đã
xuất bản
được hai
quyển đầu
của bộ
Trung Quốc
Triết Học Sử
Tân Biên
(do Nhân Dân
Xuất bản xã
ấn hành,
quyển I năm
1962 và
quyển II năm
1964; rồi tu
đính và tái
bản quyển I
năm 1982 và
quyển II năm
1984, cùng
nhà xuất
bản).
Kể từ 1979,
ông – bấy
giờ 84 tuổi
và bệnh tật
– tập trung
viết cho
xong bộ sách
7 quyển (gồm
81 chương)
này. Các
quyển III,
IV, V, và VI
của bộ
Tân Biên
lần lượt
được Nhân
Dân Xuất bản
xã ấn hành
vào các năm
1985, 1986,
1988, 1989.
Gắng gượng
chống chỏi
với bệnh tật
ở tuổi già
để hoàn tất
bộ Tân
Biên,
ông thường
nói: «Bộ
Tân Biên
chưa xong
nên phải
gượng uống
thuốc trị
bệnh; chừng
nào viết
xong rồi,
thì khỏi cần
trị bệnh
nữa.»
Tuổi
già mắt kém,
suýt loà,
ông thường
tĩnh toạ,
thâm hô hấp.
 |
Phùng
Hữu Lan
(80
tuổi) |
 |
Phùng
Hữu Lan
(90
tuổi) |
Quyển VII
ông bắt đầu
viết năm
1988, vừa
viết xong
vào tháng
7-1990 thì
tháng 9 ông
bị viêm hô
hấp và phải
nhập viện.
Ngày 4 tháng
12-1990, ông
qua đời tại
bệnh viện
Bắc Kinh,
thọ 95 tuổi.
Trong
ba ngày, từ
4 đến 6
tháng 12
này, Bắc
Kinh cử hành
một hội thảo
học thuật
quốc tế để
nghiên cứu
tư tưởng
triết học
của Phùng
Hữu Lan.
Trong Văn
Cách, có lúc
Phùng Hữu
Lan buộc
phải viết
những điều
trái với
lòng, cho
nên ông lấy
câu «tu từ
lập kỳ
thành»
修 辭 立 其 誠
của
Kinh Dịch
để tự an ủi,
và tâm sự
trong lời
tựa quyển
VII của bộ
Lịch Sử
Triết Học
Trung Quốc
Tân Biên
rằng: «Nếu
có người
không cho
[những điều
tôi viết] là
đúng, và do
đó [sách
này] không
xuất bản
được, thì
tôi sẽ là
Vương Thuyền
Sơn
vậy.»
Nhưng
thực tế, ông
đã không trở
thành Vương
Thuyền Sơn.
Trứ tác của
ông đã được
xuất bản
hết. Còn
quyển VII
của bộ
Tân Biên
vốn được xem
là một tác
phẩm độc
lập, bao
quát triết
học Trung
Quốc hiện
đại, cho nên
đã được xuất
bản riêng
biệt với
nhan đề là
Trung
Quốc Hiện
Đại Triết
Học Sử
(Trung Hoa
Thư Cục,
Hương Cảng,
1992, và
Quảng Đông
Nhân Dân
Xuất bản xã,
1999).
●
Phùng Hữu
Lan từng
viết: «Hoạt
động học
thuật của
tôi có hai
mặt: Một mặt
là triết
học, và một
mặt là lịch
sử triết học
Trung Quốc.
Trong đó cái
chính là
triết học
còn cái phụ
là lịch sử
triết học
Trung Quốc.»
Nói thế, tức
ông tự nhận
mình vừa là
triết gia,
vừa là sử
gia về triết
học Trung
Quốc. Hệ
thống triết
học của ông
– hiện nay
được gọi là
«Phùng học»
馮 學
– được trình
bày qua bộ
Trinh
Nguyên Lục
Thư. Học
thuật của
ông tóm
trong câu
đối ông
viết: «Tam
Sử luận cổ
kim, Lục Thư
kỷ Trinh
Nguyên.»
三 史 論 古 今 六
書 紀 貞 元
.
Tam Sử
(ba bộ sử:
Trung
Quốc Triết
Học Sử,
Trung Quốc
Triết
Học Giản Sử,
và Trung
Quốc Triết
Học Sử Tân
Biên) là
cống hiến
của ông về
phương diện
triết học
sử. Bộ đầu
tiên được
Derk Bodde
dịch sang
Anh ngữ, bộ
Giản Sử
được Đồ Hựu
Quang
涂 又 光
dịch
Anh-Hán.
Từ những năm
1930, Phùng
Hữu Lan chủ
trương
«thích cổ»
釋 古
(giải thích
xưa), khác
với chủ
trương «tín
cổ»
信 古
(tin xưa)
hoặc «nghi
cổ»
疑 古
(hoài nghi
xưa). Chủ
trương
«thích cổ»
Hồ Thích và
Cố Hiệt
Cương cũng
đề xướng vào
những năm
1920-1930,
nhưng tư
trào này chỉ
thịnh hành
một thời.
Năm 1935,
Phùng Hữu
Lan tổng
kết: «Xu thế
nghiên cứu
lịch sử của
Trung Quốc
gần đây dựa
theo quan
điểm nghiên
cứu có thể
phân làm ba
phái: (1)
tín cổ,
(2) nghi
cổ và
(3) thích
cổ. Phái
tín cổ tin
tưởng mù
quáng vào
sách xưa,
cho những
điều chép
trong sách
xưa đều đúng
cả, không
chút hoài
nghi, hoàn
toàn thiếu
tinh thần
phê phán.
Việc thẩm
tra sử liệu
của phái
nghi cổ
không phải
không có
đóng góp đối
với sử học,
nhưng họ cho
rằng sách
xưa đa số là
không đáng
tin, thậm
chí mạt sát
cả thảy. Đó
là sở đoản
của họ. Phái
thích cổ khá
khoa học. Họ
tuy không
tin hết sách
xưa nhưng
cũng không
vất bỏ tất
cả. Họ cho
rằng tuy
truyền
thuyết không
thể đáng tin
hết nhưng
dân ta có
thể nhân đó
mà nhìn ra
chân tướng
một phần nào
của xã hội
cổ đại. Công
phu của
người thuộc
phái nghi cổ
là thẩm tra
sử liệu còn
công việc
của người
thuộc phái
thích cổ là
dung hợp
quán thông
sử liệu.
[...] Phải
trải qua hai
giai đoạn
thẩm tra sử
liệu và dung
hợp quán
thông thì
[bộ sách]
lịch sử mới
có thể hoàn
thành. [...]
Do quan điểm
đó mà xét,
cho dù nghi
cổ hay thích
cổ, chúng
đều quan
trọng với sử
học của
Trung Quốc.»
«Sự nghiên
cứu văn hoá
cổ đại của
học giả đời
Thanh là tín
cổ, đòi hỏi
tuân theo
gia pháp.
Các học giả
từ sau phong
trào Ngũ Tứ
đều là nghi
cổ, họ muốn
đánh giá lại
các giá trị,
thích tạo
các học án.
Chúng tôi
chọn quan
điểm thứ ba,
tức thích
cổ; và muốn
cố gắng đưa
ra sự giải
thích hợp lý
và phù hợp
tình huống
đương thời.
Kiến giải và
quan điểm
của các nhà
nghiên cứu
cho dù có
thể có chỗ
bất đồng
nhưng đối
với một hiện
tượng lịch
sử nào đó họ
đều phải tìm
cho ra
nguyên nhân
của xã hội
và thời đại
dẫn đến hiện
tượng như
vậy, giải
thích tại
sao lại như
thế.»
Tam Sử
của
Phùng Hữu
Lan chính là
theo chủ
trương thích
cổ. Chủ
trương này
có ý nghĩa
quan trọng
trong việc
nghiên cứu
sử học hiện
nay, và ngày
càng được
các học giả
coi trọng.
Bộ Trinh
Nguyên Lục
Thư là
cống hiến
của ông về
phương diện
triết học,
gồm: (1)
Tân Lý Học
新 理 學,
(2)
Tân Sự Luận
新 事 論,
(3)
Tân Thế Huấn
新 世 訓,
(4)
Tân Nguyên
Nhân
新 原 人,
(5)
Tân Nguyên
Đạo
新 原 道
(tức
Trung Quốc
Triết Học
Chi Tinh
Thần
中 國 哲 學 之 精
神,
được E.R.
Hughes dịch
sang Anh
ngữ: The
Spirit of
Chinese
Philosophy
[Tinh thần
của Triết
học Trung
Quốc],
London,
1947), và
(6)
Tân Tri Ngôn
新 知 言.
—
Tân Lý Học
là đại cương
của Lục
Thư,
phát huy Lý
Học của Chu
Hi, giải
thích các
khái niệm:
Lý, Khí, Đạo
Thể, và Đại
Toàn.
—
Tân Sự
Luận
– cũng gọi
là «Con
đường dẫn
đến tự do
của Trung
Quốc» –
trình bày
quan điểm xã
hội của ông,
tức là vận
dụng Tân Lý
Học vào xã
hội. Dựa
theo sử quan
duy vật, ông
cho rằng
loại hình cơ
bản của xã
hội con
người là
«cộng tướng»
共 相
(dạng chung,
tính chất
chung) còn
đặc tính
khác nhau
của các dân
tộc là «thù
tướng»
殊 相
(dạng riêng,
tính chất
riêng). Mỗi
quốc gia đều
có thể
chuyển hoá
từ một loại
hình xã hội
này sang một
loại hình xã
hội khác, đó
là vì trong
cái «thù
tướng» có
cái «cộng
tướng».
—
Tân Thế
Huấn
luận về
phương pháp
sinh sống và
tu dưỡng đạo
đức, chủ yếu
là chọn lọc
các phương
pháp sinh
sống và tu
dưỡng đạo
đức theo
truyền thống
nhưng vẫn có
ý nghĩa nhất
định đối với
xã hội hiện
đại.
—
Tân
Nguyên Nhân
là triết
học về nhân
sinh, luận
về kiếp
người và bốn
cảnh giới
của nó: (1)
Cảnh giới
tự nhiên
(con người
sống theo
bản tính hay
tập quán tự
nhiên), (2)
Cảnh giới
công lợi
(con người
sống vì lợi
ích cá nhân,
vụ lợi riêng
cho mình),
(3) Cảnh
giới đạo đức
(con
người sống
vì lợi ích
của tha
nhân, của
cộng đồng),
và (4)
Cảnh giới
thiên địa
(con
người hiểu
được ý nghĩa
của con
người đối
với vũ trụ,
biết sống
hợp nhất với
vũ trụ).
Công dụng
của triết
học là giúp
con người
chuyển hoá
từ hai cảnh
giới trước
sang hai
cảnh giới
sau, tức là
nhằm sống
đạo đức và
hợp nhất với
trời đất.
—
Tân
Nguyên Đạo
luận về tinh
thần của
triết học
Trung Quốc,
trình bày sự
tiến triển
của các dòng
chủ lưu của
triết học
Trung Quốc,
phê bình
những mặt
được mất, và
nhấn mạnh
địa vị của
Tân Lý Học
trong lịch
sử triết học
Trung Quốc.
—
Tân Tri
Ngôn
trình bày
phương pháp
luận của
ông, đồng
thời tổng
kết kinh
nghiệm của
lịch sử
triết học
Trung Quốc
và phương
Tây.
Lục Thư
tạo thành
một hệ thống
triết học
hoàn chỉnh
mà ông đặt
tên chung là
Tân Lý Học,
tức «Phùng
học»
馮 學
(triết học
Phùng Hữu
Lan).
 |
Nơi an
nghỉ
ngàn thu
của
Phùng
Hữu Lan
(nghĩa
trang
Vạn An
tại Bắc
Kinh) |
Tháng
12-2000,
nhân kỷ niệm
lễ
minh thọ
冥 壽
thứ 105 (tức
10 năm sau
ngày mất)
của ông, hệ
Triết học
của Đại học
Bắc Kinh
(nơi đã từng
đấu tố ông)
và của Đại
học Thanh
Hoa, Sở
Triết học
thuộc Viện
Khoa học Xã
hội, Quốc tế
Nho liên,
Nhà xuất bản
Đại học Bắc
Kinh, v.v...
đã thành lập
Hội Nghiên
cứu Phùng
Học, hội
trưởng là
Chu Bá Côn.
Phùng học
thực chất là
Nho học hiện
đại, là cách
tân Lý Học
của Chu Hi.
Thuở sinh
tiền, ông đề
cao đạo
Trung Dung –
tinh hoa của
Nho giáo –
với hoài bão
của mình qua
câu đối:
«Xiển cựu
bang dĩ phụ
tân mệnh,
cực cao minh
nhi đạo
Trung Dung.»
闡 舊 邦 以 輔 新
命,極 高 明 而 道
中 庸
(Làm rõ [học
thuật] của
nước xưa để
giúp vận
mệnh mới;
đạt đến chỗ
tối cao minh
mà giảng về
Trung Dung.)
●
Hoàn tất
Tam Sử Lục
Thư, hẳn
ông đã mãn
nguyện. Ông
viết rằng:
«Hai mươi
năm trời
gắng sức với
bộ Trung
Quốc Triết
Học Sử Tân
Biên, quyển
VII giờ đã
hoàn tất.
Hồi tưởng
lại hai mươi
năm ấy tôi
không khỏi
ngậm ngùi
cảm khái.
Năm 1977, bà
Nhiệm Tải
Khôn nhà tôi
qua đời, tôi
có viết câu
đối:
“Đồng vinh
nhục, cộng
an nguy,
xuất nhập
tương phù
trì, bích
lạc hoàng
tuyền, quân
tiên khứ;
同 榮 辱 共 安 危
出 入 相 扶 持 碧
落 黃 泉 君 先 去;
Trảm danh
quan, phá
lợi sách,
phủ ngưỡng
vô quý tạc,
hải khoát
thiên không
ngã tự phi.”
斬 名 關 破 利 索
俯 仰 無 愧 怍 海
闊 天 空 我 自 飛
(Cùng vinh
quang và
nhục nhã,
chung yên
bình và nguy
khốn, ra vào
nâng đỡ
nhau, nàng
như ngọc
biếc đã rơi
xuống suối
vàng mà đi
trước ta;
Ta
chặt phá nát
ràng buộc
của danh
lợi, ngước
lên không
thẹn với
trời, cúi
xuống không
hổ với
người, biển
rộng trời
cao ta vút
bay.)
Bấy giờ tôi
đã bắt đầu
thấy danh
lợi chỉ là
những ràng
buộc, biết
“ngã tự
phi” (ta
tự bay) mới
là tự do.
Sau khi viết
xong chương
81 của bộ
Tân Biên,
tôi mới cảm
nhận được sự
tự do vút
bay nơi biển
rộng trời
cao.»
Một kiếp
người, một
đời học
thuật, trải
dài non một
thế kỷ, đầy
bi-hoan-vinh-nhục,
giờ quả thực
ông đã tự do
thoát vòng
danh lợi
rồi. Ông đã
di tặng hậu
nhân một học
thuyết Nho
giáo mới, đã
tiên phong
đắp nền cho
ngành lịch
sử triết học
Trung Quốc,
và đã góp
phần đào tạo
một thế hệ
học giả ưu
tú kế thừa.
Sự đã thành,
ông như cánh
huyền hạc
rời bỏ trần
gian tục
lụy, bay vút
vào khoảng
trời mênh
mông vô tận,
tiêu dao du
trong cõi vô
cùng: «Biển
rộng trời
cao ta vút
bay.»
●
LÊ ANH MINH
(Bài viết
này đã in
trong:
Phùng Hữu
Lan,
Lịch Sử
Triết Học
Trung Quốc,
bản dịch của
Lê Anh Minh,
Nxb Khoa Học
Xã Hội, Hà
Nội, 2007,
hai quyển,
tổng cộng
1400 trang)
Tư liệu tham
khảo chính:
1. Thái
Trọng Đức,
Phùng Hữu
Lan Tiên
sinh bình
truyện,
in trong:
Phùng Hữu
Lan,
Trung Quốc
Hiện đại
Triết học
sử,
Quảng Đông
Nhân dân
Xuất bản xã,
Quảng Đông,
1999.
2. Trần Lai,
Phùng Hữu
Lan Tiên
sinh tiểu
truyện,
in trong:
Lưu Mộng Khê
(chủ biên),
Phùng Hữu
Lan quyển,
quyển
thượng, Hà
Bắc Giáo dục
Xuất bản xã,
1996.
3. Phùng
Hữu Lan tiên
sinh học
thuật niên
biểu, in
trong: Lưu
Mộng Khê
(chủ biên),
Phùng Hữu
Lan quyển,
quyển
hạ, Hà Bắc
Giáo dục
Xuất bản xã,
1996.
4. Phùng Hữu
Lan,
Trung Quốc
Hiện đại
Triết học
sử,
Trung Hoa
Thư Cục,
Hương Cảng,
1992.
5. Phùng Hữu
Lan,
Trung Quốc
Hiện đại
Triết học
sử,
Quảng Đông
Nhân dân
Xuất bản xã,
Quảng Đông,
1999.
6. Fung
Yu-Lan, A
Short
History of
Chinese
Philosophy,
Macmillan
Company,
1967.
7. Vương Vĩ
Doanh,
Lịch sử học
gia Trần Dần
Khác dữ
triết học
gia Phùng
Hữu Lan,
in trong:
Mỗi Nhật Vãn
Báo,
được trích
đăng báo
điện tử
Nhân dân
Nhật báo Hải
ngoại bản,
số 11, ngày
10-03-2003.
http://www.booker.com.cn/big5/paper23/53/class002300001/hwz230941.htm
8. Tản Thù,
Phùng Hữu
Lan cập kỳ
Tân Lý Học
thể hệ,
http://www.confucius2000.com/big5/confucian/fengyoulan.htm
*****
CHÚ THÍCH
Tam Tùng
Đường toàn
tập,
quyển I, tr.
112.
Hồ Thích tự
là Thích
Chi, quê ở
Tích Khê
tỉnh An Huy.
Ông sinh năm
Quang Tự 17
(tức 1891).
Năm Tuyên
Thống thứ
hai (1910),
ông được Đại
học Thanh
Hoa tuyển đi
du học tại
Mỹ, đỗ cử
nhân triết
học năm 1915
tại Đại học
Cornell và
tiến sĩ
triết học
năm 1917 tại
Đại học
Columbia.
Ông là học
trò của
triết gia
John Dewey.
Trên 30 năm
ông là tiến
sĩ danh dự
của Trung
Quốc. Năm
Dân Quốc thứ
6 (1917) ông
trở về Trung
Quốc giảng
dạy tại Quốc
Lập Bắc Kinh
Đại Học. Năm
Dân Quốc thứ
8, ông viết
bài Văn học
cải lương xô
nghị (Bàn về
cải cách văn
học) trên
tạp chí Tân
Thanh Niên
(do Trần Độc
Tú sáng
lập). Trần
Độc Tú là
một lĩnh tụ
buổi đầu của
Đảng Cộng
Sản Trung
Quốc (thành
lập 1921).
Hồ Thích đề
xướng việc
sử dụng văn
bạch thoại
(là văn nói
bình dân
thường ngày)
thay thế cho
thể văn cổ
điển là văn
ngôn. Bài
báo này gây
chấn động dư
luận, từ đó
phong trào
Tân Văn Học
phát động,
đưa đến cuộc
cách mạng
văn học Bốn
tháng Năm
(Ngũ tứ vận
động 1919).
Kết quả, Bộ
Giáo Dục
chấp nhận
việc dạy
bạch thoại
trong các
trường học
kể từ 1920.
Năm 1931 ông
là viện
trưởng Bắc
Đại Văn Học
Viện (viện
văn học
thuộc Đại
học Bắc
Kinh). Thời
kháng Nhật,
ông làm đại
sứ Trung
Quốc tại Mỹ.
Sau thời
kháng Nhật,
ông làm hiệu
trưởng Đại
học Bắc
Kinh. Năm
1948 ông
sang Mỹ dạy
học tại Đại
học Cornell
và đồng thời
làm chủ
nhiệm khoa
Trung Văn
của đại học
này. Năm
1958 ông qua
Đài Loan làm
viện trưởng
Trung Ương
Nghiên Cứu
Viện và qua
đời tại
nhiệm sở này
ngày 24
tháng hai
năm 1962.
Ông trứ tác
rất nhiều.
Tác phẩm
chính có
Trung Quốc
Triết Học Sử
Đại Cương,
Bạch Thoại
Văn Học Sử,
Hồ Thích Văn
Tồn, Hồ
Thích Luận
Học Cận Trứ,
v.v...
Xem bài
Ngã đích mẫu
thân của
Hồ Thích, in
trong tuyển
tập Danh
Gia Trữ Tình
Văn Tuyển,
Đài Bắc,
1962, tr.
85.
Sách đã dẫn.
Ông
sống nơi đây
hơn 30 năm,
trước nhà có
ba cây tùng,
nên gọi Tam
Tùng Đường,
do đó các
trứ tác của
ông gom vào
một bộ cũng
lấy tên này
(Tam Tùng
Đường toàn
tập).
Cuối đời,
ông viết câu
đối: «Tâm
hoài tứ hoá,
ý ký Tam
Tùng.»
心 懷 四 化 意 寄
三 松
(Hoài bão
giáo hoá bốn
phương, ý
tưởng gởi
vào Tam
Tùng).
Xem lời giới
thiệu của
Derk Bodde
(người biên
tập) trong:
Fung Yu-Lan,
A Short
History of
Chinese
Philosophy,
Macmillan
Company,
1967.
Sách đã dẫn
ngay trên
đây.
Tam Tùng
Đường,
quyển I, tr.
261.
Về hình thức
thì sửa chữa
lời lẽ cho
tinh xác, về
nội dung thì
lấy sự thành
thực để
giảng giải.
(Quẻ Càn,
Văn Ngôn,
hào Cửu
tam).
Vương Thuyền
Sơn tức là
Vương Phu
Chi
(1619-1692),
sống giữa
đời Minh và
đời Thanh.
Ông dấy binh
phản Thanh
phục Minh;
nhưng không
thành, ông
bèn ẩn cư
trong núi
Thạch Thuyền
Sơn, do đó
mà người đời
gọi ông là
Vương Thuyền
Sơn. Ông
thông thiên
văn, lịch
số, kinh sử,
địa lý, trứ
tác rất
nhiều, nhất
là về Dịch
học. Mấy
trăm năm sau
khi ông mất,
người đời
mới sưu tập
tác phẩm của
ông thành
Thuyền Sơn
Di Tập,
gồm 324
quyển, bao
quát 70 chủ
đề.
Lời tựa của
Phùng Hữu
Lan Học
Thuật Luận
Tứ Tự Tuyển
Tập.
Trung Quốc
Cận Niên
Nghiên Cứu
Sử Học Chi
Tân Xu Thế,
in trong
Tam Tùng
Đường
quyển 11,
tr. 281,
359.
Dẫn theo
Vương Dao,
Ngã Đích
Hân Ủy Dữ Kỳ
Đãi,
đăng trong
Văn Nghệ
Báo,
6-12-1988.
Theo Nhân
Dân Nhật
Báo, hải
ngoại bản,
số báo
ngày
27-12-2000.
Phùng Hữu
Lan,
Trung Quốc
Hiện đại
Triết học
sử,
Quảng Đông
Nhân dân
Xuất bản xã,
Quảng Đông,
1999. |