Những bài cùng tác giả
Đại Văn Hào SOMERSET MAUGHAM (1874 – 1965)
Nhà Văn Danh Tiếng của Nước Anh
William Somerset Maugham là nhà viết kịch, viết tiểu thuyết, viết truyện
ngắn người Anh. Đây là một trong vài tác giả danh tiếng nhất trong thập niên
1930 và còn là nhà văn được trả tiền tác quyền cao nhất. 1/ Cuộc đời của Nhà Văn Somerset Maugham.
W. Somerset Maugham chào đời vào ngày 25/11/1874 tại thành phố Paris, nước
Pháp, và qua đời ngày 16/12/1965 tại tỉnh Nice, nước Pháp. Cha của William là ông Robert Ormond Maugham, một luật sư lo các công việc
pháp lý tại Tòa Đại Sứ Anh ở thành phố Paris. Vì luật lệ của nước Pháp quy
định rằng các trẻ em sinh ra trên đất Pháp sẽ bị gọi vào quân đội, nên ông
Robert Ormond đã xếp đặt để cậu bé William chào đời bên trong Tòa Đại Sứ
Anh, như vậy cậu bé này được coi như sinh đẻ trên đất Anh và sẽ không bị
động viên vào các cuộc chiến tranh tương lai của nước Pháp. Ông nội của cậu William, hay Willie là tên gọi thân mật lúc còn nhỏ, cũng có
tên là Robert, là một luật sư xuất sắc và cũng là người sáng lập nên Hội
Luật Anh Quốc (The English Law Society). William Somerset Maugham còn có một
người anh lớn tên là Frederick Herbert Maugham, cũng theo ngành luật pháp và
về sau đã trở nên Thủ Tướng (Lord Chancellor) của nước Anh trong 2 năm
1938-39. Như vậy với truyền thống gia đình danh tiếng này, người ta tin rằng
cậu Willie sẽ nối tiếp con đường của cha anh để lại. Bà mẹ của cậu Willie tên là Edith Mary, đã mắc bệnh lao phổi, vào thời bấy
giờ, các bác sĩ đã tin rằng việc sinh con có thể chữa được bệnh này. Vì vậy
mặc dù cậu Willie đã có 3 người Anh khá lớn tuổi và khi cậu Willie lên 3, bà
mẹ của cậu sinh thêm một đứa con nữa. Việc sinh con này đã không chữa được
bệnh phổi và bà Edith Mary Maugham đã qua đời ở tuổi 41, 6 ngày sau khi sinh
đứa con trai cuối cùng và đứa bé này cũng chết ngay khi lọt lòng mẹ. Sự qua
đời của bà mẹ đã khiến cho cậu Willie rất đau buồn trong suốt cuộc đời và
cậu đã đặt tấm ảnh của bà mẹ bên cạnh giường ngủ của mình cho tới ngày cuối
của đời mình. Hai năm sau đó, cha của cậu Willie cũng qua đời vì bệnh ung thư rồi cậu bé này được gửi về
nước Anh để cho ông bác chăm sóc. Ông bác Henry MacDonald Maugham là vị mục
sư tại Whitestable, trong hạt Kent, là một người lạnh lùng và tàn nhẫn về
mặt tình cảm. Cậu Willie được gửi theo học nội trú trong trường King (the
King's School) thuộc hạt Canterbury, đây cũng là một nơi cực khổ đối với
Willie bởi vì cậu bị các bạn bè chế riễu do vóc người thấp lùn, một nét di
truyền từ người cha, và do kém tiếng Anh bởi vì tiếng Pháp là ngôn ngữ đầu
tiên. Cũng vào thời kỳ này, Willie bắt đầu nói cà lăm (nói lắp), khuyết tật
này không thường xuyên mà tùy theo hoàn cảnh, theo trạng thái tâm hồn. Cuộc sống của Willie trong giáo khu của ông bác đã dạy cho cậu phải kiềm chế
mọi cảm xúc, không được bộc lộ sự nóng giận cũng như khi gặp gỡ các bạn bè
khác phải hạn chế biểu lộ các tình cảm, trong khi đó Willie là một con người
rất tò mò, nhưng đã phải giữ yên lặng, phải sống trong cảnh riêng tư. Kết
quả là Willie cảm thấy rất đau khổ ở nhà cũng như ở trường, và đã khiến cho
sau này, nhà văn Maugham phản ảnh các vết thương tình cảm qua các nhân vật
bên trong nhiều tác phẩm của mình. Vào tuổi 16, Somerset Maugham không muốn theo học trường King nữa nên được
ông bác cho phép đi du lịch qua nước Đức, tại đây William theo học tiếng
Đức, học văn chương và triết học tại trường đại học Heidelberg. Vào giai
đoạn này, Somerset Maugham khám phá thấy mình thuộc về loại người đồng tính
luyến ái (homosexual) cho nên càng trở nên lo lắng và rồi tìm cách ẩn mình,
ít tiếp xúc với xã hội chung quanh. Khi trở về nước Anh, Somerset Maugham được ông bác kiếm cho công việc làm
trong một văn phòng kế toán nhưng sau một tháng, William đã bỏ cuộc, sự việc
này khiến cho ông bác rất bất bình. Ông bác này muốn Somerset Maugham theo
lối đi của cha và ba người anh, họ đều là các luật sư xuất sắc trong khi đó
nghề mục sư cũng không thích hợp với William bởi vì chàng nói cà lăm. Cuối
cùng, một bác sĩ địa phương đã khuyên ông bác cho Somerset Maugham theo học
nghề y khoa trong khi William thực sự muốn theo nghề viết văn. Cuối cùng
William Somerset Maugham đành phải tới thành phố London để theo nghề y khoa
tại trường St. Thomas trong 5 năm. Nhiều người cho rằng theo học ngành y khoa sẽ tiêu hủy tinh thần sáng tác
văn chương nhưng trái lại, Somerset Maugham đã cảm thấy vui vẻ khi sinh sống
tại thành phố London sống động, khi gặp các người thuộc giai cấp thấp, khi
thấy họ ở trong các hoàn cảnh lo lắng và William đã nhận thấy ý nghĩa của
đời sống của họ. Somerset Maugham đã hồi tưởng khi còn là một sinh viên y
khoa: "Tôi đã nhìn thấy người ta qua đời như thế nào. Tôi đã nhìn thấy họ
phải chịu đau khổ ra sao. Tôi đã chứng kiến cảnh hy vọng ra sao, sợ hãi ra
sao, xoa dịu ra sao". Somerset Maugham đã ghi vào các sổ tay các suy nghĩ của mình trước các hoàn
cảnh của con người trong khi đang theo học để dành lấy mảnh bằng. Kết quả là
cuốn truyện đầu tiên đã ra đời: "Lisa của miền Lambeth" (Lisa of Lambeth,
1897). Đây là tác phẩm thứ hai của Somerset Maugham, viết về giới lao động
khi ông là một sinh viên y khoa 22 tuổi, lo công việc đỡ đẻ tại khu vực
Lambeth nghèo nàn của thành phố London. Cuốn truyện này được nhiều người đón đọc, kể cả các người điểm sách rồi
trong vòng vài tuần lễ, tác phẩm thuộc đợt in đầu tiên đã được bán hết. Sự
việc này khiến cho Somerset Maugham yên tâm để từ bỏ ngành y khoa mà bước
vào ngành viết văn, và ông đã nói khi mới bước vào nghề mới này như sau:
"Tôi bước vào nghề này như một con vịt bước xuống nước". Nghề viết văn khiến cho Somerset Maugham phải đi và sống tại nhiều nơi, như
tới xứ Tây Ban Nha hay hòn đảo Capri, nhưng sau 10 tác phẩm được xuất bản,
Somerset Maugham đã không đạt được thành công như cuốn truyện "Lisa của
Lambeth". Tới năm 1907, Somerset Maugham lại thành công với vở kịch "Bà Frederick"
(Lady Frederick), rồi qua năm sau, ông có 4 vở kịch được trình diễn tại
London và kết quả kể trên khiến cho tạp chí Punch đã phổ biến một tranh vui,
vẽ hình Đại Văn Hào Shakespeare phải "cắn móng tay" khi nhìn vào các tấm
bảng quảng cáo các vở kịch của Somerset Maugham. Vào năm 1910, Somerset Maugham nổi tiếng do 10 vở kịch và 10 cuốn tiểu
thuyết. Bởi vì tuổi cao hơn tuổi động viên nên không thể gia nhập quân đội
khi Thế Chiến Thứ Nhất bùng nổ, Somerset Maugham đã qua đất Pháp, gia nhập
Hồng Thập Tự Anh và phục vụ trong "Nhóm tài xế văn chương chạy xe cứu
thương" (Literary Ambulance Drivers), nhóm này gồm 23 nhà văn danh tiếng như
Ernest Hemingway, John Dos Passos, E.E. Cummings... Trong thời gian phục vụ cho công tác Hồng Thập Tự này, Somerset Maugham đã
gặp Frederick Gerald Haxton, một người trẻ từ thành phố San Francisco, anh
này trở nên một người bạn đồng hành và một "người yêu" (lover) của Somerset
Maugham cho đến khi Haxton qua đời vào năm 1944. Nói rằng Haxton là người
yêu bởi vì Somerset Maugham là một con người lưỡng tính (bisexual). Chính trong giai đoạn này và ở vào lúc không bận công tác xe cứu thương,
Somerset Maugham đã viết và đọc lại bản thảo của cuốn "Về Cảnh Nô Lệ của Con
Người" (Of Human Bondage, 1915) tại một địa điểm gần Dunkirk. Các nhà phê bình văn học đã mô tả tác phẩm "Về Cảnh Nô Lệ của Con Người" là
một trong các tiểu thuyết quan trọng nhất của thế kỷ 20. Cuốn truyện này
giống như cuốn tự thuật của tác giả trong đó nhân vật Phillip Cary là một
bác sĩ, có tật nói cà lăm, và mục sư của miền Whitestable trở thành mục sư
của miền Blackstable. Sự hiện diện chặt chẽ giữa hư cấu và không hư cấu đã
trở nên một nét đặc thù của Somerset Maugham, rồi về sau, vào năm 1938, ông
đã viết rằng: "Sự kiện hiện thực và hư cấu đã được trộn lẫn trong các tác
phẩm của tôi và khi đọc lại, tôi không còn phân biệt được thứ nọ với thứ
kia". Vào khoảng năm 1914, Somerset Maugham đã tư tình với bà Gwendoline Maud
Syrie Barnado, vợ của một nhà tài phiệt về thuốc tây, là ông Henry Welcome,
sinh ra đứa bé gái đặt tên là Elizabeth Liza Mary Maugham (1915-1998). Chồng
của bà Syrie vì vậy đã nạp đơn xin ly dị bà vợ này. Tới tháng 5/1916,
Somerset Maugham và bà Syrie lập hôn thú với nhau. Khi Somerset Maugham đã trở về nước Anh và không thể phục vụ trong đội quân
xe cứu thương, bà vợ Syrie đã dàn xếp để Somerset Maugham gặp một nhân viên
tình báo cao cấp của chính quyền Anh, bí danh là "R", rồi tới tháng 9/1915,
Somerset Maugham qua Thụy Sĩ, hoạt động như một nhà văn nhưng bí mật thu
lượm các tin tức tình báo. Somerset Maugham là một con người yên lặng và
giỏi quan sát nên có đủ đức tính của một nhân viên tình báo. Ông tin rằng
mình đã thừa hưởng được các đặc tính này từ người cha, nhờ vậy, ông biết suy
xét rõ ràng và không để ai lường gạt vì vẻ bên ngoài. Năm 1916, Somerset Maugham đã du lịch trong vùng Thái Bình Dương, tìm kiếm
tài liệu và khởi đầu viết cuốn tiểu thuyết "Mặt Trăng và 6 Xu" (The Moon and
Sixpence) căn cứ vào cuộc đời của họa sĩ Paul Gauguin. Đây là lần đầu tiên
đi thật xa, để sau này, trong thập niên 1920 và 1930, nhà văn này đã tới
thăm viếng thế giới của các miền đất thuộc địa như Ấn Độ, Đông Nam Á, Trung
Hoa và các hải đảo Thái Bình Dương. Trong các lần đi xa này, Somerset
Maugham đều có anh chàng Haxton đi kèm, bởi vì nhà văn là một người e thẹn
trong khi Haxton là con người tâm hướng ngoại (extrovert), dễ dàng thu nhận
các tài liệu hay dữ kiện về con người địa phương để cho nhà văn Somerset
Maugham chuyển thành các cuốn tiểu thuyết. Vào tháng 6 năm 1917, Sir William Wiseman, người đứng đầu Cơ Quan Tình Báo
Anh Quốc (The British Secret Intelligence Service, sau này được đặt tên là
MI6) đã gặp Somerset Maugham và yêu cầu nhà văn sang nước Nga để lãnh một
nhiệm vụ đặc biệt, đó là làm sao giúp cho các đảng viên Mensheviks nắm chính
quyền và nước Nga sẽ ở trong tình trạng chiến tranh. Hai tháng rưỡi sau,
nhóm Bolsheviks đã thắng thế và công tác của Somerset Maugham coi như không
thực hiện được dù cho nhà văn này đã nói rằng nếu ông qua nước Nga sớm hơn 6
tháng thì có lẽ ông đã thành công. Nhờ các kinh nghiệm về tình báo, Somerset
Maugham đã không để mất cơ hội chuyển các điều hiểu biết về do thám này
thành một loạt các truyện ngắn với nhân vật gián điệp là Ashenden, một người
lịch sự, hoàn hảo và tháo vát. Các truyện Ashenden (Ashenden stories) của
Somerset Maugham về sau trở nên căn bản cho cuốn phim hồi hộp "Nhân Viên Mật
Vụ" (The Secret Agent) của Alfred Hitchcock. Cách viết truyện phản gián của
Somerset Maugham cũng ảnh hưởng tới nhà văn Ian Fleming với viên gián điệp
danh tiếng James Bond. Năm 1922, Somerset Maugham đã đề tặng cuốn truyện ngắn "Về bức màn Trung
Hoa" (On a Chinese Screen, 1923) cho bà Syrie nhưng rồi cặp vợ chồng này đã
ly dị nhau vào năm 1927 bởi vì bà vợ Syrie đã quá ghen tức do ông chồng
Somerset thường hay đi du lịch vắng nhà và liên hệ với anh chàng Haxton. Vào năm 1928, Somerset Maugham đã mua Biệt Thự Mauresque nằm trên mảnh đất
rộng 12 mẫu tại Cap Ferrat thuộc vùng biển danh tiếng Riviera của nước Pháp.
Đây là tòa nhà nghỉ ngơi của nhà văn này trong các năm cuối đời và cũng là
một trong các địa điểm tụ họp lớn của giới Văn Chương và Xã Hội trong các
thập niên 1920 và 1930. Các vị khách được mời tới Biệt Thự Mauresque là
những nhân vật như Winston Churchill, Garson Kanin, Ian Fleming, Evelyn
Waugh, Cecil Beaton, Rudyard Kipling và Rebecca West... Cũng tại nơi này,
sức sáng tác phong phú của Somerset Maugham tiếp tục được duy trì, ông đã
viết ra các vở kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết, các bài bình luận và các sách
du lịch. Trong thập niên 1930, danh tiếng của Somerset Maugham tại châu Âu
còn lớn lao hơn tại nước Anh, là quê hương của ông. Tới năm 1940 khi Thế Chiến Thứ Hai lan tới miền Nam của nước Pháp và khi
chính phủ Pháp đầu hàng quân Đức Quốc Xã, Somerset Maugham phải rời khỏi
miền Riviera để đi lánh nạn qua Hoa Kỳ, ông trở thành một người tị nạn rất
giàu có và cũng là người giàu nhất trong số các nhà văn danh tiếng viết
tiếng Anh. Khi Thế Chiến Thứ Hai diễn ra, Somerset Maugham ở tuổi 60, đã sống phần lớn
thời gian tại Hollywood để viết nhiều kịch bản phim (scripts), nên ông cũng
là một trong các tác giả kiếm được nhiều tiền nhất do công việc chuyển các
cuốn tiểu thuyết danh tiếng sang các cốt truyện phim. Trong khi sinh sống
tại Hoa Kỳ vào thời kỳ này, chính quyền nước Anh đã yêu cầu ông viết ra và
đọc các bài diễn thuyết ái quốc để cổ động Hoa Kỳ giúp đỡ nước Anh đồng thời
cũng là một nước đồng minh tham chiến. Năm 1944, Gerald Haxton qua đời
nên Somerset Maugham di chuyển về nước Anh rồi tới năm 1946, ông dọn nhà,
trở về Biệt Thự Mauresque tại miền Nam của nước Pháp và sống cho tới ngày
cuối đời. Sự vắng bóng anh chàng Haxton đã khiến Somerset Maugham thay thế
bằng Alan Searle. Ông đã gặp anh chàng này vào năm 1928. Searle là một người
trẻ tuổi, xuất thân từ khu vực nghèo khó Bermondsey của thành phố London và
đã từng sinh sống với các người đồng tính luyến ái lớn tuổi hơn. Searle cũng là một người tận tụy với
Somerset Maugham và còn là một người bạn đồng hành khích lệ của nhà văn này.

Năm 1954 Vào các năm cuối đời, Somerset Maugham đã phạm nhiều lỗi lầm căn bản trong
cách phán xét nên đã gây ra nhiều tiếng xấu và vì vậy có người cho rằng ông
đã đi dần tới tình trạng mất trí nhớ (dementia), trái hẳn với thời kỳ ông
còn trai trẻ, là người quá khôn ngoan và lịch thiệp. Một trong các vụ tai
tiếng là những lời chê trách bà vợ Syrie đã quá vãng, trong tác phẩm hồi ký
"Nhìn Lại" (Looking Back) của ông, viết vào năm 1962. Cũng vào các năm này,
Somerset Maugham chấp nhận anh chàng Alan Searle làm con nuôi để thừa hưởng
tài sản để lại, sự việc này đã bị cô con gái Liza và chồng là Lord Glendevon
đưa ra tranh tụng trước công lý và khiến cho nhà văn danh tiếng Somerset
Maugham bị nhiều người chê cười.

Năm 1961 2/ Vài nhận xét về Nhà Văn Somerset Maugham.
Somerset Maugham là nhà văn rất thành công về phương diện thương mại nhờ số
sách truyện bán được rất cao, nhờ viết ra các vở kịch thành công, nhờ một
loạt các kịch bản phim hấp dẫn, nhờ cách đầu tư tinh khôn vào thị trường
chứng khoán, tất cả đã khiến cho nhà văn này sống một cuộc đời rất tiện nghi
và đầy đủ. Khi còn nhỏ tuổi, Somerset Maugham là một người yếu đuối và không cao lớn,
nhưng ông đã chịu đựng bền bỉ để viết ra rất nhiều cuốn truyện hay mà tác
giả rất hãnh diện. Thế nhưng, mặc dù các thành công về thương mại, Somerset
Maugham đã không được giới phê bình văn học và các nhà văn bạn kính trọng
bởi vì đã có lần tác giả này thú nhận rằng trong văn chương của ông thiếu đi
"phẩm chất trữ tình" (lyrical quality), số từ vựng trong các tác phẩm không
dồi dào và ông không có tài khi dùng các "ẩn dụ" (metaphor). Tuy nhiên, có vẻ như nhà văn Somerset Maugham bị đánh giá quá thấp bởi vì
ông đã viết văn theo thể trực tiếp (a direct style). Khi đọc một cuốn sách,
một cuốn truyện của Somerset Maugham, độc giả không cần tới các nhà phê bình
(critics) cắt nghĩa về nội dung, về cách diễn tả... Somerset Maugham đã suy
nghĩ minh bạch, viết ra rõ ràng, diễn tả các quan niệm hay ý tưởng đôi khi
yếm thế, chua chát bằng các lời văn đẹp đẽ, văn minh. Cách duy trì cốt
truyện (plot) của Somerset Maugham rất khéo léo khiến cho các nhà phê bình
văn học đã so sánh ông với Guy de Maupassant, là nhà văn danh tiếng người
Pháp. Ông đã viết văn vào thời kỳ mà các nhà văn thực nghiệm mới
(experimental modernists) như William Faulkner, Thomas Mann, James Joyce và
Virginia Woolf đang được đại chúng chú ý và được các nhà phê bình văn học ca
ngợi. Khi viết ra các tiểu thuyết hư cấu, Somerset Maugham có khuynh hướng đồng
tính luyến ái, đã mô tả các người đàn bà hấp dẫn như các đối
thủ tình dục (sexual rivals) theo một cách khác biệt với các tác giả danh
tiếng đương thời. Các người đàn bà trong các tác phẩm như "Liza của Lambeth"
(Liza of Lambeth), "Bánh Ngọt và Rượu Bia" (Cakes and Ale), "Cạnh sắc của
dao cạo" (The Razor's Edge)... là những người thích thú tình dục mà không
quan tâm tới kết quả. Sự mô tả về thích thú tình dục (sexual appetites) của Somerset Maugham đã
không được các địa phương mà ông từng đi qua du lịch chấp nhận, bởi vì ông
đã không lên án các thói xấu của những nhân vật mô tả trong các vở kịch hay
các tiểu thuyết hư cấu. Vào năm 1938, Somerset Maugham đã có lần thú nhận
rằng "lỗi tại tôi, bởi vì tôi đã không bị xúc động bởi các tội lỗi của họ
trừ khi họ ảnh hưởng tới cá nhân tôi". Nhiều người đồng ý rằng tác phẩm chính của Somerset Maugham là cuốn "Về Cảnh
Nô Lệ của Con Người" (Of Human Bondage). Đây là cuốn tiểu thuyết tự thuật
(an auto-biographical novel) trong đó nhân vật chính Philip Carey có đời
sống giống như tác giả, đã bị mồ côi và được một ông bác nhân từ nuôi dưỡng. Các truyện ngắn được nhiều người đọc ghi nhớ nhất là về đời sống cô đơn của
các người thuộc địa phương tây (Western colonists), phần lớn là người Anh,
tại vùng Viễn Đông và các truyện tiêu biểu gồm "Mưa" (Rain), "Vết Chân trong
Rừng Nhiệt Đới" (Footprints in the Jungle) và "Nơi Tạm Cư " (The
Outstation)... Somerset Maugham đã nói rằng nhiều truyện ngắn của ông là do ông được nghe
kể lại trong các chuyến đi du lịch, trong các vùng ngoại vi của Đế Quốc Anh.
Là một trong các nhà văn viết về du lịch quan trọng nhất trong các năm giữa
hai cuộc Thế Chiến, ông đã sáng tác nhiều truyện liên quan tới các hành
trình qua các xứ Miến Điện, Thái Lan, Cam Bốt, Việt Nam, Trung Hoa... Somerset Maugham là nhịp cầu nối các nhà văn thuộc trường phái cổ điển,
truyền thống, như Christopher Marlowe, Ben Johnson và Daniel Defoe, với các
nhà văn hiện đại như Graham Greene, John Le Carré, John Dickson Carr, Alec
Waugh và Ted Allbeury. Vào năm 1947, Somerset lập ra Giải Thưởng Somerset Maugham (the Somerset
Maugham Award) để trao tặng cho nhà văn gốc Anh nào dưới 35 tuổi có truyện
xuất bản vào năm vừa qua. Các người lãnh giải danh tiếng gồm Kingsley Amis
và Thom Gunn. Trước khi qua đời vào ngày 16/12/1965 tại Nice, nước Pháp, nhà văn Somerset
Maugham đã ủy tặng các tác quyền cho Quỹ Văn Học Hoàng Gia (The Royal
Literary Fund). Một số ít nhà văn sau này đã ca ngợi Somerset Maugham, gồm có Anthony
Burgess, là người đã mô tả chân dung hư cấu của Somerset Maugham trong cuốn
tiểu thuyết "Các Sức Mạnh Trần Thế" (Earthly Powers) và nhà văn George
Orwell cũng xác nhận rằng lối hành văn của ông chịu ảnh hưởng của Somerset
Maugham. 3/ Một số tác phẩm của Đại Văn Hào Somerset Maugham.
• Lisa của miền Lambeth (Liza of Lambeth, 1897). • Định Hướng (Orientations, 1899). • Bà Craddock (Mrs. Craddock, 1902). • Một người đàn ông danh dự (A Man of Honour, 1903). • Áo phủ ngoài của ông Giám Mục (The Bishop's Apron, 1906). • Người làm trò quỷ thuật (The Magician, 1908). • Penelope, 1909. • Bà Frederick (Lady Frederick, 1912). • Jack Straw, 1912. • Bà Dot (Mrs. Dot, 1912). • Về Cảnh Nô Lệ của Con Người (Of Human Bondage, 1915), quay thành phim năm
1934: đạo diễn John Cromwell, năm 1946: đạo diễn Edmund Goldig, năm 1964:
đạo diễn Henry Hathaway, Ken Hughes. • Mặt Trăng và Sáu Xu (The Moon and Sixpence, 1919), quay thành phim năm
1943: đạo diễn Albert Lewin. • Vòng Tròn (The Circle, 1921), quay thành phim năm 1925: đạo diễn Frank
Borzage. • Sadie Thompson, 1921, quay thành phim năm 1928: đạo diễn Raoul Walsh, tài
tử Gloria Swanson, Lionel Barrymore; Sade/ Miss Sadie Thompson, 1953), đạo
diễn Curtis Bernhardt, tài tử Rita Hayworth và Mel Ferrer. • Rung rinh cành lá (The Trembling of a Leaf, 1921). • Phía đông của Kênh Suez (East of Suez, 1922), quay thành phim năm 1925,
đạo diễn Raoul Walsh. • Trên bức màn Trung Hoa (On Chinese Screen, 1922). • Our Better, 1923, quay thành phim năm 1933, đạo diễn George Cukor. • Bức màn có vẽ hình (The Painted Veil, 1925), quay thành phim năm 1934, đạo
diễn Richard Bolesslawski. • Người vợ không đổi (The Constant Wife, 1925). • Cây Casuarina (The Casuarina Tree, 1926). • Bức Thư (The Letter, 1927), quay thành phim năm 1940, đạo diễn William
Wyler. • Ngọn Lửa Thiêng (The Sacred Flame, 1928), quay thành phim Quyền Sống (The
Right to Live) năm 1935, đạo diễn William Keighley. • Ashenden, 1928, quay thành phim Nhân Viên Mật Vụ (Secret Agen) năm 1936,
đạo diễn Alfred Hitchcock, tài tử John Gielgud, Madeleine Carroll, Peter
Lorre, Robert Young, Percy Marmont. • Kẻ Kiếm Sống (The Breadwinner, 1930). • Bánh Ngọt và Rượu Bia (Cakes and ale, 1930). • Người đầu tiên số ít (First Person Singular, 1931). • Mưa (Rain, 1932), đạo diễn Lewis Milestone, tài tử Joan Crawford, Walter
Huston. • Sưu tập các vở kịch (Collected Plays, 1931-34). • Góc Hẹp (The Narrow Corner, 1932). • Về Dịch Vụ Thuê (For Services Rented, 1932). • Sưu tập các vở kịch (Collected Plays, 1933). • Sheppey, 1933. • Ah King, 1933. • Thế Giới (Cosmopolitans, 1936). • Rạp Hát (The Theatre, 1937), quay thành phim năm 2004, đạo diễn Istvan
Szabo, tài tử Annette Bening, Jeremy Irons, Shaun Evans. • Tóm Lược (The Summing Up, 1938). • Ngày Nghỉ Giáng Sinh (Christmas Holiday, 1939), quay thành phim năm 1944,
đạo diễn Robert Siodmark. • Hợp Chất như trước kia (The Mixture as Before, 1940). • Lên từ Biệt Thự (Up at the Villa, 1941), quay thành phim năm 2000, đạo
diễn Philip Haas, tài tử Kristin Scott Thomas, Sean Penn. • Hoàn toàn cá nhân (Strictly Personal, 1941). • Giờ trước Rạng Đông (The Hour before the Dawn, 1942). • Cạnh Sắc của Dao Cạo (The Razor's Edge, 1944), quay thành phim năm 1946:
đạo diễn Edmund Goulding, năm 1948: đạo diễn John Byrum, tài tử Bill Murray,
Theresa Russel và Denholm Elliott. • Trước Kia và Ngày Nay (Then and Now, 1946). • Sinh vật của hoàn cảnh (Creatures of Circumstances, 1947). • Catalina, 1948. • Sổ Ghi của Nhà Văn (A Writer's Notebook, 1949). • Các Truyện Ngắn Toàn Tập (The Complete Short Stories, 1951). • Tâm Trạng Lang Thang (The Vagrant Mood, 1952). • Các Tiểu Thuyết Tuyển Chọn (Selected Novels, 1953). • 10 Tiểu Thuyết và các Tác Giả (Ten Novels and Their Authors, 1954). • Xa và Rộng (Far and Wide, 1955). • Các Truyện Ngắn Hạng Nhất (Best Short Stories, 1957). • Các Quan Điểm (Points of View, 1958). • Nhìn Lại (Looking Back, 1962). • 17 Truyện Thất Lạc (Seventeen Lost Stories, 1969). • Người Lữ Khách (A Traveller in Romance, 1984)./. Phạm Văn Tuấn.
©
http://vietsciences.free.frr
và http://vietsciences.org
Phạm Văn Tuấn
|