
L'Adieu
J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur Terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends
Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó...
Lời Vĩnh Biệt -- Bùi Giáng dịch
Mùa Thu Chết -- Phạm Duy phổ nhạc
Tên thật là Wilhelm Apollinaris de Kostrowitzky, sinh ngày
26 tháng 8 năm 1880 tại Rome , nước Ý .
Mẹ ông , Angelica Kostrowitzky, người đàn bà trẻ 22 tuổi dòng dõi qúy
tộc Ba Lan, có thêm một cậu con trai khác nữa, Albert, với một sĩ quan
quân đội Ý , Francesco Fulgi d’Aspremont, nhưng người đàn ông này đã
không nhìn nhận cả 2 cậu bé là con của mình.
. 1885, Francesco Fulgi d’Aspremont bỏ rơi cô Angelica Kostrowitzki. Bà
mẹ trẻ này đã can đảm cùng với 2 con trai Guillaume và Albert dời sang
cư trú tại Monaco .
. 1890, tại trường Trung học Saint-Charles ở Monaco cậu bé Guillaume
Apollinaris học rất giỏi. Trong thời kỳ này cậu học trò cũng đã tự khai
tâm cho mình về những huyền thoại Hy Lạp và huyền thoại thời Trung đại.
. 1897, Guillaume theo học rất xuất sắc tại Nice nhưng cậu lại không
tiếp tục thi Tú Tài mà bỏ học để khởi đầu cho những sáng tác về văn
chương.
. 1899, Angelica Kostrowitzky và 2 cậu con trai về Paris, thủ đô Pháp.
Thời gian đầu tiên họ đã phải thật vất vả
để có thể hội nhập được vào
cuộc sống tại đây. Guillaume tự ghi tên mình trong bản kiểm kê dân số
tại tòa thị sảnh như một người nước ngoài, làm nhiều nghề khác nhau để
mưu sinh. Thời gian này, Guillaume gặp và yêu cô Linda Molina da Silva
nhưng tình yêu của cậu đã không được đáp ứng lại, đây cũng sẽ là một
trong những sự "ổn định" trong cuộc đời nhà thơ : thường trực khao khát
yêu rồi cũng rất thường xuyên bị ruồng đuổi, khước từ.
. 1901, nhờ may mắn, Guillaume Apollinaire được tuyển dụng vào chức vụ
gia sư dạy Pháp văn cho một cô gái quý tộc, Gabrielle de Milhau. Mẹ cô
học trò, bà nữ công tức De Milhau, người gốc Đức, cùng cô con gái đi
Rhénanie (Đức), bà dẫn theo một cô quản gia người Anh, Annie Playden và
người gia sư trẻ Guillaume Apollinaire đã đem lòng yêu thương cô quản
gia này. Nhưng buồn thay, cô không cảm nhận được ở anh chàng trai Ý, một
tình yêu lý tưởng, kết qủa nhà thơ trẻ cũng lại bị xua đuổi . Kinh
nghiệm của cuộc tình này đã cho phép Guillaume viết một vài bài thơ
tuyệt vời như bài La Chanson du Mal-Aimé, bài thơ xuất hiện lần đầu tiên
vào năm 1909 và sau đó trong thi tập Alcools (xuất bản năm 1913) :
La Chanson du Mal-Aimé
Un soir de demi-brume à Londres
Un voyou qui ressemblait à
Mon amour vint à ma rencontre
Et le regard qu'il me jeta
Me fit baisser les yeux de honte
Je suivis ce mauvais garçon
Qui sifflotait mains dans les poches
Nous semblions entre les maisons
Onde ouverte de la mer Rouge
Lui les Hébreux moi Pharaon
Qui tombent ces vagues de briques
Si tu ne fus pas bien aimée
Je suis le souverain d'Egypte
Sa sœur-épouse son armée
Si tu n'es pas l'amour unique ....
............................
Chuyến lưu ngụ tại Đức bên cạnh bờ sông Rhin cùng những chuyện thần
thoại Đức cũng cho nhà thơ nguồn cảm hứng để sáng tác 9 bài thơ, đề cập
tới vùng Rhénanes ,tập trung trong thi tập Alcools. Trong năm 1901 này,
Guillaume cho đăng 3 bài thơ dưới bút hiệu Wilhelm de Kostrowitzky.
. Tháng 2 năm 1902, Guillaume đi lang thang khắp nước Đức, Áo...
. 1903, trở về Paris . Để mưu sinh chàng thi sĩ Guillaume Apollinaire đã
làm việc trong một ngân hàng cùng lúc đó cộng tác với nhiều tờ báo văn
chương trước khi trở thành chủ biên hai tạp chí : tạp chí thứ nhất
chuyên về vấn đề đầu cơ vào nghiệp vụ giao dịch chứng khoán và tạp chí
thứ hai chẳng dính líu gì đến tạp chí thứ, Festin d'Europe (1903-1904),
tạp chí chuyên chú vào thơ ca, cũng trong tờ tạp chí này, Guillaume cho
ra mắt Enchanteur Pourrissant, tác phẩm bằng văn xuôi, ấn bản thứ nhất.
Guillaume cũng cho đăng tải những thi phẩm khác và kết bạn với những văn
nghệ sĩ như Alfred Jarry, André Salmon, André Billy et Max Jacob, tất cả
đều thân mật gọi Guillaume bằng tên «Kostro». Cũng để thỏa mãn cho nhu
cầu tài chánh cần thiết cho đời sống thường nhật và sở thích về "văn
chương tự do", Guillaume Apollinaire biên soạn những truyện khiêu dâm
xuất bản lậu như Les Onze Mille Verges - 1906 hay Les Exploits d'un
Jeune Don Juan- 1911.
. Tháng 4 năm 1905, trong tạp chí Revue Immoraliste, Apollinaire lưu ý
độc gỉiả về tài nghệ của một họa sĩ trẻ người Tây Ban Nha vừa đến khu
Montmartre, Pablo Picasso. Guillaume cũng lại chính là người đầu tiên ca
ngợi nghệ thuật hồn nhiên (Art Naïf) của Douanier Rousseau, đề cập một
cách thán phục về Matisse, viết bài tựa cho cuộc triển lãm đầu tiên của
Georges Braque và du lịch Anh cùng với Picabia.
Tụ họp cùng các bạn thơ tại Bateau-Lavoir và Le Lapin Agile , tham dự
với Picasso (1881-1973) và thi họa sĩ Max Jacob (1876-1944) trong công
cuộc thai nghén một lý thuyết nghệ thuật mới, " le cubisme " - trường
phái lập thể , với chủ trương đặc quyền cho thần cảm trừu tượng quy củ
theo hình học mà không mô tả theo thực tại - (les Peintres Cubistes,
1913) . Derain minh họa bài Enchanteur Pourrissant, Dufy vẽ le
Bestiaire, Metzinger và Chirico vẽ chân dung Apollinaire. Trong khi chờ
đợi thời cơ, Guillaume Apollinaire vẫn làm việc tại ngân hàng và tiếp
tục xuất bản những truyện khiêu dâm bán lậu. Những việc làm đó đã cho
phép Guillame thực hiện 2 vai trò chính là phê bình nghệ thuật và làm
thơ để tự khẳng định vị trí một người cầm bút tiên phong.
. 1907, nhờ Picasso mà Apollinaire gặp, yêu tác phẩm và yêu luôn tác giả
: cô Marie Laurencin, một nữ họa sĩ
chuyên vẽ tranh thủy mạc, mối tình đam
mê của hai người đã kéo dài cho đến năm
1912.
Marie
Vous y dansiez petite
fille
Y danserez-vous mère-grand
C'est la maclotte qui sautille
Toutes les cloches sonneront
Quand donc reviendrez-vous Marie
Les masques sont silencieux
Et la musique est si lointaine
Qu'elle semble venir des cieux
Oui je veux vous aimer mais vous aimer à peine
Et mon mal est délicieux
Les
brebis s'en vont dans la neige
Flocons de laine et ceux d'argent
Des soldats passent et que n'ai-je
Un coeur moi ce coeur
changeant
Changeant et puis encore que sais-je
Sais-je où s'en iront tes cheveux
Crépus comme mer qui moutonne
Sais-je où s'en iront tes cheveux
Et tes mains feuilles d'automne
Qui jonchent aussi nos aveux
Tranh Vẽ của Marie Laurencin
- Từ trái sang phải : Pablo Picasso, Fernande Olivier, Guillaume
Apollinaire và Marie Laurencin)
. 1908, trong tờ La Phalange, xuất hiện Onirocritique và
nguyên thủy của
tập Bestiaire sau này. Guillaume Apollinaire thuyết trình về thơ tượng
trưng tại phòng tiếp tân của những nghệ sĩ độc lập và viết lời mở đầu
cho quyển liệt kê mục lục cho cuộc triển lãm của Cercle de l'Art Moderne
tại le Havre với tựa đề Les Trois Vertus Plastiques.
. 1909, khởi đầu cho sự hợp tác của Apollinaire với các tạp chí
L'Intransigeant và Mercure de France với vai trò phê bình nghệ thuật .
Apollinaire cũng viết những bài phê bình văn chương của nữ giới và những
bài thơ với bút hiệu Louise Lalanne.
Tháng 11, xuất bản thi tập Enchanteur Pourrissant, minh họa bởi Derain
cùng lúc Apollinaire cho xuất bản những cuốn sách "trụy lạc" trong bộ
sách sưu tập Maîtres de l'Amour và thiết lập những hợp tuyển về văn
chương khiêu dâm với những tác gỉa như Arénin, Sade (bị kiểm duyệt hoàn
toàn), Nerciat và Mirabeau.
. 1910, Apollinaire xuất bản l'Hérésiarque et Cie, tập 16 truyện hoang
đường tuyệt vời với giọng điệu thật hư ảo.
. 1911, xuất bản tập những bài thơ ngắn Bestiaire hay là Cortège
d'Orphée minh họa bởi Raoul Dufy với những bản khắc trên gỗ vào tháng 3.
Ngày 7 tháng 9, bị buộc tội tòng phạm trong một vụ ăn cắp, Apollinaire
bị giam giữ tại nhà giam La Santé nhưng 5 ngày sau được miễn tố và trả
tự do .
. 1912, Cùng với Salmon, Tudesq, Dalize và André Billy, Guillaume
Apollinaire sáng lập tạp chí Les Soirées de Paris trong đó ông đóng góp
rất nhiều bài viết. Kể từ năm 1913, Apollinaire đảm trách vai trò điều
hành tờ báo. Marie Laurencin chia tay với Guillaume Apollinaire vì không
chịu nổi bệnh ghen tương của nhà thơ.
Sáng tác Le Pont Mirabeau.
Sous
le pont Mirabeau coule la Seine
Et nos amours
Faut-il qu'il m'en souvienne
La joie venait toujours après la peine
Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure
Les mains dans les mains restons face à face
Tandis que sous
Le pont de nos bras passe
Des éternels regards l'onde si lasse
Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure
L'amour s'en va comme cette eau courante
L'amour s'en va
Comme la vie est lente
Et comme l'Espérance est violente
Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure
Passent les jours et passent les semaines
Ni temps passait
Ni les amours reviennent
Sous le pont Mirabeau coule la Seine
Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure
"Le Pont Mirabeau"
Apollinaire, Alcools (1912)
. 1913, từ tháng Giêng Guillaume Apollinaire về cư ngụ tại số 202 đại lộ
Saint-Germain. Tháng 4, xuất bản tập Alcools tập trung những bài thơ hay
nhất đã được viết từ năm 1898 đến 1912 tập thơ lần này được bỏ đi tất cả
các dấu chấm câu . Tháng 5, cho ra mắt quyển sách viết về phê bình nghệ
thuật, Les Peintes Cubistes -những họa sĩ tập thể .
Ngày 29 tháng 6, Apollinaire xuất bản L'Antitradition futuriste bằng
tiếng Pháp và tiếng Ý . Kết bạn với Picabia và Blaise Cendrars.
. 1914, Apollinaire thực hiện những bài tranh thơ (calligramme) đầu tiên
và càng ngày càng hiện diện tại khu Montparnasses, trung tâm tụ tập của
những nhà họa sĩ tứ xứ.
Khi thế chiến bùng nổ, Apollinaire đang cùng với André Rouveyre có mặt
tại bãi tắm La Baule và Dauville . Tổng động viên. Apollinaire làm thủ
tục xin quốc tịch Pháp và tình nguyện được gia nhập hàng ngũ quân đội
Pháp. Tháng 9, tại Nice, G. Apollinaire gặp và yêu cô Louise de
Coligny-Chatillon, một người đàn bà thuộc dòng giõi quý tộc. Ngày 6
tháng 12 năm 1914, Guillaume được điều động đến trung đoàn 38 pháo binh
đóng tại Nîmes, ngày hôm sau "Lou" đến.
. 1915, Apollinaire tình nguyện ra mặt trận và được phong hàm Hạ Sĩ .
Guillaume Apollinaire chia sẻ cuộc sống cùng những nỗi thống khổ với
những người đồng ngũ dưới các chiến hào. Kinh nghiệm này đã cho
Guillaume nguồn cảm hứng để sáng tác nhiều bài thơ mà nội dung trộn lẫn
ghê rợn của chiến tranh, niềm hy vọng vào sự sống và tình yêu . Cũng
trong thời gian này, Apollinaire viết những bức tình thơ gởi về cho
người yêu, Louise de Coligny-Châtillon -"Lou":
Louise de Coligny-Châtillon (Lou)
Je pense à Toi
Je pense à toi mon Lou ton coeur est ma caserne
Mes sens sont tes chevaux ton souvenir est ma luzerne
Le ciel est plein ce soir de sabres d'éperons
Les canonniers s'en vont dans l'ombre lourds et prompts
Mais près de toi je vois sans cesse ton image
Ta bouche est la blessure ardente du courage
Nos fanfares éclatent dans la nuit comme ta voix
Quand je suis à cheval tu trottes près de moi
Nos 75 sont gracieux comme ton corps
Et tes cheveux sont fauves comme le feu d'un obus
qui éclate au nord
Je t'aime tes mains et mes souvenirs
Font sonner à toute heure une heureuse fanfare
Des soleils tour à tour se prennent à hennir
Nous sommes les bat-flanc sur qui ruent les étoiles
[Poèmes à Lou]
Một số thơ được xuất bản trong thi tập Calligramme (1918) kèm theo
Poèmes de la Paix et de la Guerre, Poèmes Conversations và Idéogrammes
Lyriques mà những bài thơ là những chữ kết hợp thành hình vẽ (xem hình
poème du 9 février 1915) , Les Autres Lettres xuất bản vào năm 1947 sau
khi nhà thơ đã qua đời dưới tựa đề Poèmes à Lou.
Trong một chuyến được về phép, trên xe lửa đưa nhà thơ từ mặt trận về
thăm "Lou", Guillaume Apollinaire gặp Madeleine Pagès, một cô gái sống
gần vùng Oran. Apollinaire trở thành người hôn phu của cô gái này và
cũng cùng lúc sự liên lạc thư tín với một nữ thi sĩ của tỉnh
Montpellier, Yves Blanc, một bà mẹ chiến sĩ. Được thăng cấp Trung Sĩ vào
tháng 9 và thuyên chuyển về vùng lân cận thành phố Reims. Tháng 12, nghỉ
phép để đến với gia đình Madeleine Pagès tại Algérie.

Pour
Madeleine seule
Lune candide vous brillez moins que les hanches
De mon amour
Aubes que j'admire vous êtes moins blanches
Aubes que chaque jour
J'admire ô hanches si blanches
Il y a le reflet de votre blancheur
Au fond de cet aluminium
Dont on fait des bagues
Dans cette zone où règne la blancheur
O hanches si blanches
[Poèmes à Madeleine]
Trở lại mặt trận, Guillaume được thuyện chuyển sang Trung Đoàn 96 Pháo
Binh với cấp bậc Thiếu Úy.
. 1916, được quốc tịch Pháp. Ngày 17 tháng 3, Apollinaire bị trúng
thương ở thái dương vì những mảnh trái pháo và phải khoan ở
xương vào
tháng 5. Trong thời gian dưỡng bệnh nhà thơ đã cho xuất bản tập Le Poète
Assassiné, tập hợp những truyện ngắn, truyện cổ tích vừa hoang đường lại
vừa có tính chất của những tự truyện. Vưà lành bệnh, Apollinaire lại muốn trở lại chiến trường nhưng những cơn
đau đầu liên tục đã bắt buộc nhà thơ phải rời quân ngũ trở về sống tại
Paris sau đó bỏ dự tính kết hôn với Madeleine.
. 1917, ngày 18 tháng 5, Parade, kịch múa với nhạc của Satie, trang phục
và khung cảnh trang trí vẽ bởi Picasso, một luận chứng của Jean Cocteau
mà Apollinaire trình bày trong chương trình. Ngày 24 tháng 6,
Apollinaire dựng vở kịch Les Mamelles de Tirésias, một thảm kịch siêu
thực với giọng điệu khôi hài nhưng để cập đến những vấn đề đúng đắn, sau
đó ông hoàn tất một quyển tiểu thuyết, La Femme Assise . Ngày 26 tháng
12, thuyết trình tại Vieux Colombier với đề tài : L'Esprit Nouveau et
les Poètes. Apollinaire viết chung với André Billy kịch bản La Bréhatine
cho điện ảnh . Gặp gỡ Jacqueline Kolb, "La jolie rousse" của bài thơ
cuối trong tập Calligrammes:

La Jolie rousse
Me voici devant tous un homme plein de
sens
Connaissant la vie et de la mort ce qu'un vivant peut connaître
Ayant éprouvé les douleurs et les joies de l'amour
Ayant su quelquefois imposer ses idées
Connaissant plusieurs langages
Ayant pas mal voyagé
Ayant vu la guerre dans l'Artillerie et l'lnfanterie
Blessé à la tête trépané sous le chloroforme
Ayant perdu ses meilleurs amis dans l'effroyable lutte
Je sais d'ancien et de nouveau autant qu'un homme seul pourrait
des deux savoir
Et sans m'inquiéter aujourd'hui de cette guerre
Entre nous et pour nous mes amis
Je juge cette longue querelle de la tradition et de l'invention
Vous dont la bouche est faite à l'image de celle de Dieu
........
 . Ngày 1 tháng Giêng năm 1918, bị bệnh sung huyết phổi, Guillaume
Apollinaire phải vào điều trị tại bệnh viện. Ngày 2 tháng 5, Guillaume
Apollinaire cưới Jacqueline Kolb tại quận 12 Paris mà Picasso và
Vollard là nhân chứng. Ngày 15 tháng 4, tập thơ Calligrammes được xuất
bản. Bị mắc bệnh cúm tây ban nha (Grippe Espagnole) đang hoành hành tại Âu
Châu, yếu ớt vì thương tật chiến tranh và những cơn bệnh hoạn vừa trải
qua, Guillaume Apollinaire mất ngày 9 tháng 11 ngay trước ngày đình
chiến khi mới chỉ được 38 tuổi . . Ngày 13 tháng 11 năm 1918, bao quanh quan tài G. Apollinaire là mẹ và
em trai ông cùng những bạn bè văn nghệ sĩ, nhà thơ được an táng tại
nghĩa trang Père-Lachaire. Bên ngoài, quần chúng tại thủ đô Paris hớn hở
đón mừng ngày chiến tranh chấm dứt.
Guillaume Apollinaire đã để lại một công trình độc đáo, thần khải bằng
một thị lực mới về thế giới và vạch ra những định hướng về thơ ca cho
những nhà thơ trẻ của nhóm siêu thực đi sau ông như André Breton, Louis
Aragon, Soupault...
Guillaume Apollinaire an nghỉ
tại nghĩa trang Père-Lachaise

Montmartre, khu bán và vẽ tranh

Montmartre - Thánh đường Sacré-Coeur
II - Tác phẩm của
Guillaume Apollinaire
. L’Enchanteur pourrissant (1899/1904) . Rhénanes (1901/02) . Les Mamelles de Tirésias (1903/18) . Les Mémoires d’un jeune Don Juan (1905) . La Chanson du Mal-Aimé (1909) . La Poésie symboliste (1909) . L’Hérésiarque et Cie (1910) . Le Bestiaire ou Cortège d’Orphée (1911) . Les Peintres cubiste (1913) . Alcools (1913) . Les Méditations esthétiques (1913) . L’Antitradition futuriste (1914) . Le Poète assassiné (1916) . L’Esprit nouveau et les Poètes (1917) . Le Flâneur des deux rives (1918) . Calligrammes (1918) . Le Guetteur mélancolique (1952) . Poèmes à Lou (1955) . Poèmes retrouvés (1956)
Thơ Calligrammes





©
http://vietsciences.free.fr
và
http://vietsciences.net
Từ Vũ
|