Những bài cùng tác giả
Trong
cuốn “Hồ sơ văn hoá Mỹ”, nhà nghiên cứu Hữu Ngọc có giới thiệu
một số nhà thơ cổ điển Mỹ như Walt Whitman, Edgar A. Poe, Henri
W. Longfellow… Về Longfellow, ông Hữu Ngọc viết:
“Nếu
không đòi hỏi tâm lí và tư duy sâu sắc thì có thể tìm ở thơ
Longfellow sự trong sáng, giản dị, cảm xúc nhẹ nhàng, bâng
khuâng, hình ảnh duyên dáng và âm điệu du dương. Ông làm thơ về
lịch sử và truyền thuyết, đất nước và thiên nhiên, ông ca ngợi
tình thương, lòng tốt, chịu đựng cuộc đời. Ông thành công nhất
trong những bài thơ ngắn.
Dẫu sao, ông cũng là một nhà thơ tiếng Anh rất phổ biến, khi
chết được cả nước Mỹ thương khóc, nhà thơ Mỹ đầu tiên có danh dự
(sic) được lập đài kỉ niệm tại Tu viện Westminster.(Sđd, tr.
605)
Phải
chăng thơ của Longfellow không sâu sắc vì cuộc đời của ông dễ
dàng, hạnh phúc nhiều hơn đau buồn? Cũng như mọi người, ông đã
từng trải qua những nỗi đau buồn, thí dụ như người vợ thứ hai
của ông bị chết cháy năm ông 54 tuổi. Nhưng dường như ông không
bị đau khổ sâu sắc.” (Sđd, tr. 606)
Nói
rằng thơ Longfellow không sâu sắc và ông không bị đau
khổ sâu sắc thì có lẽ hơi nghiêm khắc với thi sĩ. Lời giản
dị lắm khi đòi hỏi những rung động rất tinh tế, thâm trầm và
nhiều nhọc nhằn thai ghén để phô diễn một cách bình thường,
không cầu kì và hoa mỹ. Nỗi đau đớn xé lòng lắm khi không cần
phải gào thét lâm li, dài dòng mà chỉ cần đọng lại trong một vài
ẩn dụ kín đáo. Đọc thơ Longfellow, ta có thể thấy sự mộc mạc
trong thơ ông dễ chạm đến lòng người và đọng lại ở đó lâu dài
đằm thắm. Đọc thơ Longfellow gợi ta tới những câu thơ bình dị
của Nguyễn Bính, Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng cỏ nội bay đi
ít nhiều…
Theo
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Henry Wadsworth Longfellow,
nhà thơ Mỹ, là tác giả của nhiều tập thơ nổi tiếng: “Bài ca
về Hiawatha”, “Bản thánh ca của cuộc đời”, “Chuông Giáng Sinh”,
“Thơ cho đời nô lệ”… Ông cũng là tác giả của bản dịch
Thần khúc (La divina commedia của Dante) ra tiếng Anh hay nhất.
Henry
Wadsworth Longfellow sinh ngày 27 tháng Hai, 1807 ở Portland,
Maine. Ông có người bạn nối khố là văn hào Nathaniel Hawthorne,
tác giả cuốn truyện The Scarlet Letter (Chữ A đỏ sẩm). Năm 1825
sau khi tốt nghiệp ở Bowdoin College, ông được trường này mời
làm giáo sư dạy ngoại ngữ (tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng
Tây Ban Nha…). Chuẩn bị cho công việc này, ông lên đường sang
châu Âu, đến các nước Pháp, Tây Ban Nha, Italia, Đức… để học
tiếng và nghiên cứu về văn hoá, lịch sử của các nước này. Từ năm
1829-1835 ông tiếp tục dạy ở Bowdoin College. Năm 1831, ông cưới
cô bạn học Mary Storer Potter làm vợ và xuất bản tập thơ
Outre-Mer (Ở nước ngoài). Năm 1934, Đại học Harvard mời ông
dạy các ngoại ngữ và ông lại lên đường sang châu Âu du lịch. Năm
1835, trong chuyến đi chu du nước ngoài lần thứ hai của ông, bà
Mary đi theo nhưng bị sẩy thai và qua đời. Ông một mình trở về
Mỹ năm 1836, dạy ở Đại học Harvard đến năm 1854.
Tập
thơ đầu tiên Voices of the Night (Giọng của đêm, 1839) có
bài thơ Bản thánh ca của cuộc đời làm cho Longfellow trở
thành nhà thơ nổi tiếng trong tất cả mọi tầng lớp của xã hội.
Tập thơ Ballads and Other Poems (Những bài Ballad và
những bài thơ khác, 1842) có bài thơ Excelsior (Cao hơn
nữa) cũng là một bài thơ rất nổi tiếng. Năm 1843 ông cưới vợ lần
thứ hai với cô Frances Appleton và tiếp tục sáng tác nhiều. Năm
1954 ông từ chức giáo sư Đại học Havard để chuyên tâm sáng tác.
Tháng Sáu cùng năm ấy, ông khởi viết một trường ca sử thi về
người da đỏ: The Song of Hiawatha (Bài ca về Hiawatha,
nhà tiên tri da đỏ). Năm 1861 vợ thứ hai của ông lại qua đời vì
bị cháy bỏng nặng, Longfellow rất buồn và đau khổ nhưng vẫn sáng
tác đều. Ông bỏ ra nhiều năm để dịch trọn vẹn bộ “Thần khúc”
của Dante ra tiếng Anh. Bản dịch này được đánh giá là bản dịch
tốt nhất trong số rất nhiều bản dịch ra tiếng Anh. Những năm
cuối đời ông bị bệnh khớp nhưng vẫn luôn thoải mái tâm hồn và
vẫn làm việc nhiều. Ông mất ở Cambridge, Massachusetts ngày 24
tháng 3 năm 1882.
Henry
Wadsworth Longfellow là nhà thơ rất nổi tiếng không chỉ ở Mỹ mà
cả ở nước ngoài. Ông nhận được nhiều sự tôn vinh trong đó có
việc dựng tượng bán thân của ông ở Góc Thi Nhân tại Tu viện
Westminster (Anh quốc).
Một
vài bài thơ rất quen thuộc của ông sẽ giúp chúng ta có một vài
nhận định về tài năng của nhà thơ này
The
Arrow and the Song
I
shot an arrow into the air
It
fell to earth, I knew not where For,
so swiftly it flew, the sight Could
not follow it in its flight.
I
breathed a song into the air It
fell to earth, I knew not where For
who had sight so keen and strong That
it could follow the flight of song
Long,
long afterwards, in an oak I
found the arrow, still unbroke And
the song from the beginning to the end I
found again in the heart of a friend
Phỏng dịch:
Bài ca và mũi tên
Tôi bắn mũi
tên vào không trung
Tên bay vun
vút giữa muôn trùng
Tên rơi đâu đó
ai hay được
Mắt chẳng làm
sao dõi bước cùng
Tôi thở bài ca
vào không gian
Âm thanh tản
mát bốn phương ngàn
Mắt ai sắc bén
mà theo kịp
Tiếng nhạc êm
đềm theo gió lan
Ngàn ngày sau
trên một thân cây
Tên ghim
nguyên vẹn có ai hay
Và khúc hát y
như thuở ấy
Nằm trong tim
bè bạn quanh đây
Không
có gì khó hiểu trong bài thơ đơn giản và nhẹ nhàng này. Người
đọc khó mà cưỡng lại sức thuyết phục và truyền cảm của nó. Một
học sinh tiểu học hẳn cũng sẻ chia được niềm vui của tác giả khi
tìm lại được mũi tên và bài ca như chính bản thân cậu bé tìm lại
được món đồ chơi thuở ấu thời đã bị thất lạc hay nghe lại được
lời ru thuở nằm nôi. Còn chúng ta, liệu chúng ta có vui sướng
không khi thấy được các di sản tinh thần và vật chất của cha ông
từ ngàn xưa còn hiển hiện quanh đây bên chúng ta? Dưới góc độ
triết lý cao siêu hơn, mọi nhân lành (bài ca) hay nhân ác (mũi
tên) dù tránh được công lí xã hội thì vẫn để lại những quả ngọt
hay chua trong tiến trình luân hồi nghiệp báo. Với những hình
tượng rất thô sơ, gần gũi, dễ nhận thấy và nói về những đề tài
thiết thân với mọi người, ông đã diễn tả được nhiều ý nghĩa sâu
sắc. Đây cũng lí do tạo nên sự thành công của thơ ông ngoài tài
sử dụng ngôn ngữ một cách mềm mại và dễ dàng của ông. Thơ ông
chứa chất một niềm vui, một tinh thần lạc quan và lòng tin vào
cái thiện trong cuộc sống khiến khêu gợi được sự đáp ứng tức
thời trong tâm hồn người đọc.
Còn
về tình cảm cá nhân, mười tám năm sau khi mất luôn người vợ thứ
hai, nỗi đau đớn vẫn không hề thôi theo bám ông. Ông đã viết
trong bài thơ The Cross of Snow (Chiếc thánh giá băng
tuyết):
Such
is the cross I wear upon my breast
These
eighteen years, through all the changing scenes
And
seasons, changeless since the day she died.
(Chiếc thánh giá nặng đè trên ngực
Mười
tám năm vẫn mực y nguyên
Bao
mùa dâu bể liên miên
Từ ngày
em nhẹ gót tiên về trời.)
Với
lời thơ giản dị như thế, Henri W. Longfellow vẫn làm cho chúng
ta cảm nhận được niềm đau dai dẵng và nhức nhối trong tim ông.
Hai lần phải chia tay vĩnh viễn với hai người bạn đời đã để lại
cho ông một vết thương lòng vô vàn buốt xé. Có lẽ chúng ta cũng
vậy thôi trước những mất mát lớn lao như thế. Longfellow được
mọi người biết là một người chồng tận tuỵ và say mê vui thú với
gia đình. Ông dành nhiều tình cảm cho con cái và gia đình. Tập
thơ Footsteps of Angels (Bước chân của các thiên sứ) đã
ghi lại những tình cảm nồng nàn của ông dành cho người vợ thứ
nhất thì chiếc cầu Longfellow ở Boston còn đó để minh chứng cho
tình yêu nồng cháy ông dành cho người vợ thứ hai. Công chúng đã
ngưỡng mộ và tôn vinh tình yêu của ông qua việc đọc thơ ông và
đặt cho chiếc cầu đưa ông đến nhà của Frances Appleton cái tên
Longfellow. Hình ảnh của hai người vợ của ông còn nằm lẫn khuất
trong các nhân vật trong thơ ông như trong bài sonnet The
Evening Star:
O
my beloved, my sweet Hesperus!
My
morning and my evening star of love!
(Sao
Hôm, sao Mai tình yêu
Là
Hes-pe-rus mĩ miều của tôi
Ngọt
ngào, yêu quí nhất đời.)
Hãy
đọc thêm một số bài thơ khác của Longfellow để thấy ông rất nhạy
bén và tinh tế trong mọi cảm xúc. Bài Serenade (Mộ khúc)
nói lên tình yêu của ông vô vàn đằm thắm:
Serenade
Stars
of the summer night
Far
in yon assure deeps
Hide,
hide thy golden light
She
sleeps!
My
lady sleeps!
Sleeps!
Moon
of the summer night
Far
down yon western steeps
Sink,
sink in silver light
She
sleeps!
My
lady sleeps!
Sleeps!
Winds
of the summer night
Where yonder
woodbine creeps
Fold, fold your
pinions light
She
sleeps!
My
lady sleeps!
Sleeps!
Dream
of the summer night
Tell
her, her love keeps
Watch!
While in slumber light
She
sleeps!
My
lady sleeps!
Sleeps!
Phỏng
dịch:
Mộ khúc
Sao
đêm hạ
Thẳm
trời xanh
Nắng
vàng trốn
Em
của anh
Ngủ
ngon lành.
Trăng đêm hạ
Mãi trời
tây
Chìm ánh bạc
Em thơ ngây
Vẫn ngủ
say.
Gió đêm hạ
Rung kim
ngân
Xếp cánh mỏng
Em âm thầm
Ngủ yên
tâm.
Mơ đêm hạ
Nuôi tình
em
Trong giấc ngủ
Không ưu
phiền
Em ngủ êm.
Bài
thơ này đã được Neil Diamond phổ nhạc với tựa là Longfellow
Serenade. Bài thơ Christmas Bells (Chuông Giáng Sinh)
của ông lại là nguồn cảm hứng cho bài ca Giáng Sinh nổi tiếng
I Heard the Bells on Christmas Day .
Trong
tập thơ Poems on Slavery (Thơ cho đời nô lệ) ông đã bày
tỏ niềm xót thương vô hạn đối với những con người bất hạnh này
và lòng phẩn uất trước tội ác và bất công của chế độ vô nhân
này. Hãy đọc thử một bài trong tập thơ đó:
The Witnesses
In Ocean's wide
domains,
Half buried in the sands,
Lie skeletons in chains,
With shackled feet and hands.
Beyond the fall of
dews,
Deeper than plummet lies,
Float ships, with all their crews,
No more to sink nor rise.
There the black
Slave-ship swims,
Freighted with human forms,
Whose fettered, fleshless limbs
Are not the sport of storms.
These are the bones
of Slaves;
They gleam from the abyss;
They cry, from yawning waves,
"We are the Witnesses!"
Within Earth's wide
domains
Are markets for men's lives;
Their necks are galled with chains,
Their wrists are cramped with gyves.
Dead bodies, that
the kite
In deserts makes its prey;
Murders, that with affright
Scare school-boys from their play!
All evil thoughts
and deeds;
Anger, and lust, and pride;
The foulest, rankest weeds,
That choke Life's groaning tide!
These are the woes
of Slaves;
They glare from the abyss;
They cry, from unknown graves,
"We are the Witnesses!"
Lược dịch:
Những
chứng nhân
Trong lòng biển
cả mênh mang
Ôi! Những bộ
xương người
nửa vùi
sâu trong cát
Xiềng xích gông
cùm thép sắt
Trói chặt tay
chân.
Dưới lớp mù sương
phủ kín dần
Những con tàu một
thời viễn xứ
Nay đã cùng những
người thuỷ thủ
Chìm sâu hơn
những viên chì.
Những chiếc tàu
buôn nô lệ đen sì
Nhét chất biết
bao người ngợm
Lòi tói ăn dần
thịt da, chỉ còn trơ xương xám
Đáng gì mà bão tố
đùa chơi.
Chỉ còn đây xương
nô lệ mà thôi
Dưới vực thẳm
ngời tiếng kêu bi thảm:
“Chúng tôi là
những chứng nhân của những kiếp đời u ám.”
Và kia trong lòng
lục địa thênh thang
Cũng những chợ
bán mua nô lệ
Cũng xích, cũng
xiềng như thế
Cổ đầu chân tay
vướng vít cùm gông.
Ai chết đi cứ
quẳng ra đồng
Ra sa mạc cho quạ
diều rỉa xác
Những trò giết
người tàn ác
Lũ học trò sợ
lạnh cả xương da.
Ôi, đầu óc điên
cuồng, ý nghĩ xấu xa
Giận dữ, tham lam
lại đầy kiêu ngạo
Như cỏ dại hôi
tanh dày đặc
Làm nghẹn sóng
đời đang rên xiết thở than.
Đời nông nô thống
khổ vô vàn!
Những nỗi khổ
sáng lên từ vực thẳm
Từ những nấm mồ
không tên vang lên:
“Chúng tôi là
chứng nhân của những kiếp đời u ám.”
Vị
trí của Henri Wadsworth Longfellow có tầm khá quan trọng trong
nền văn hoá Mỹ thời tiền phong với “sự đơm hoa của vùng New
England” (the flowering of New England) như Van Wyck
Brooks đã ám chỉ thời kỳ 1815 -1865 của văn học Mỹ. Đây là thời
kì xây dựng một bản sắc văn hoá riêng cho nước Mỹ non trẻ. Trước
đó mọi cái đều không có giá trị nếu không du nhập đến từ Châu
Âu. Đầu thế kỷ 19, nền văn hoá Mỹ chỉ là một đứa bé đi chập
chững (a stumbling babe theo Roberto Rabe). Cùng với Nathaniel
Hawthorne, Afred Tennyson, Ralph W. Emerson, Henry D. Thoreau,
William Makepeace Thackery, Edgar A. Poe… ông đã khắc hoạ nên
những hình tượng văn học đầu tiên cho truyền thống và huyền
thoại Mỹ quốc. Ông đã nói đến các đề tài dân tộc đất nước từ trẻ
con, dân nghèo, xóm làng… đến thậm chí cả người nô lệ da đen và
người da đỏ. The Song of Hiawatha (Bài ca về Hiawatha,
nhà tiên tri da đỏ) hay Poems on Slavery (Thơ cho đời nô
lệ) đã gây chấn động trong giới tri thức Mỹ khi cho họ trực diện
với các tội ác mà các đồng bào họ đã gây ra cho các tộc người
khác. Ta còn hiểu được tâm tình phóng khoáng và giàu tính nhân
văn của những con người đi tìm Tự Do trên vùng đất mới này. Họ
cũng là những con người nghèo khổ bỏ xóm làng ra đi, chỉ với hi
vọng xây
dựng được một khung trời
mới ấm no và hạnh phúc từ bàn tay khối óc nhiệt tình lao động.
Chế độ tư sản với những hạn chế của nó như sự cách biệt giàu
nghèo, sự bóc lột lao động, sự kì thị giai cấp… lại càng làm nẩy
sinh ra nhiều văn nghệ sĩ giàu lòng nhân ái, khát khao một chân
trời tốt đẹp hơn. Họ chính là lương tri của xã hội, đã ra sức
đấu tranh cho cái lí tưởng cao đẹp đó. Xã hội càng không toàn mỹ
lại càng làm cho ước vọng vươn tới cái Đẹp cái Thiện mãnh liệt
hơn. Các nhà văn tiền phong của nước Mỹ đã bùng lên trong thời
kỳ xây dựng đất nước non trẻ này.
Nước
Mỹ mang ơn nhiều những nhà văn tiên phong này trong đó nhà thơ
dân dã Henri W. Longfellow.
Tháng
01/2008
Bản của tác giả gửi
© http://vietsciences.free.frr
và http://vietsciences.org
Nguyễn Phúc Vĩnh Ba
|