Vào thập niên 1870, một nhóm các họa sĩ trẻ bắt đầu tìm kiếm một
đường hướng nghệ thuật mới để làm biến đổi các truyền thống hội họa
đã có từ thời Phục Hưng tại châu Âu. Các họa sĩ này đã đi trực tiếp
tới thiên nhiên để tìm hứng khởi, lấy đề tài trong xã hội đang sinh
sống và được khuyến khích bởi hai nhà danh họa tiền phong là Gustave
Courbet và Eduard Manet. Kết quả là qua các sáng tác, họ đã khám phá
ra một cách nhìn tươi mới và ngay tức thời, khác hẳn cách diễn tả
của các bậc thầy cổ điển. Nghệ thuật Hội Họa mới này trình bày ngay
thứ “ấn tượng” tức thời của đề tài bằng các màu sắc thuần chất, mang
tính chất lung linh, rực rỡ, hơn là bằng các màu nâu và đen, màu
thông dụng của các nhà danh họa cổ điển.
Pierre August Renoir là một trong các họa sĩ hàng đầu của trường phái Ấn
Tượng (Impressionism) thuộc thế kỷ 19, đã ghi lên khung vải các đặc
tính kỳ ảo của ánh sáng và không khí, các phẩm chất cá biệt và thân
mật của người mẫu cũng như mô tả được bản chất thi vị, xúc cảm của
phong cảnh thiên nhiên. Nhà danh họa Renoir đã sáng tác về Hội Họa
trong 60 năm với khoảng 6,000 họa phẩm và thành quả này được coi là
rất phong phú, chỉ đứng sau các công trình của Pablo Picasso.
1/ Các năm học nghề.
Pierre A. Renoir là con của một người thợ may, chào đời ngày 25-2-1841
tại Limoges, nước Pháp. Không lâu sau đó, gia đình Renoir đã dọn lên
thành phố Paris, hi vọng tìm ra các cơ hội làm ăn tốt đẹp hơn. Vào
thời kỳ này, Paris là thủ đô của một trong các cường quốc. Nước Pháp
đã là một quốc gia thống nhất, có chính quyền tập trung cả về chính
trị và kinh tế, và Paris là trung tâm rực rỡ về nhiều mặt phát triển
như khoa học, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật… Về văn chương, cuộc sinh
hoạt hàng ngày được các nhà văn hiện thực mô tả như Gustave Flaubert
và Emile Zola, lúc này còn rất trẻ. Tại các rạp hát, khán giả rất
đông đảo, thưởng thức các vở kịch của Victorien Sardou và Alexandre
Dumas Jr. Trên sân khấu các hí viện, có các buổi hòa nhạc giao
hưởng, các màn trình diễn vũ ba-lê, các ca kịch nhỏ (operettas) do
Jacques Offenbach soạn ra. Giới trung lưu, giới tư sản của xã hội
Pháp đang trở nên thịnh vượng, họ thưởng thức mọi nghệ thuật quyến
rũ cả về thính giác lẫn thị giác. Về kiến trúc, thành phố Paris đang
xây cất các tòa dinh thự lớn theo kiến trúc Tân-Baroque như Đại Hí
Viện (Grand Opera) xây dựng bằng thép và thủy tinh, và phần trang
trí do các nhà điêu khắc danh tiếng như Jean Baptiste Carpeaux.

Opéra
Chính vào giai đoạn này, có rất nhiều họa sĩ sáng tác ra các bức sơn
dầu, một số bức mang độ chính xác quá đáng, theo đúng quy tắc, nhưng
tất cả đều cố gắng mô tả vẻ đẹp, làm vui mắt người ngắm tranh và các
họa phẩm thường được treo tại các phòng triển lãm, các phòng tiếp
tân của rạp hát, tại các nhà hàng và các địạ điểm họp mặt. Việc đánh
giá các họa phẩm vào thời kỳ này do Phòng Triển Lãm, gọi là Salon,
bởi các vị giáo sư từ các Hàn Lâm Viện Nghệ Thuật. Mỗi năm, các vị
này xem xét khoảng 2,500 họa phẩm và dân chúng Pháp phần lớn chấp
nhận cách cứu xét của các vị có thẩm quyền nghệ thuật này.
Chính trong bối cảnh lịch sử, văn hóa và xã hội này, Pierre August
Renoir đã trưởng thành. Từ tuổi 13, cậu thiếu niên này đã tỏ ra có
năng khiếu về hội họa nên được gia đình cho học nghề vẽ tại một
xưởng đồ gốm và công việc của cậu là trang trí các tách cà phê bằng
các bông hoa nhỏ, hoặc vẽ cảnh chăn cừu hay mặt nghiêng của hoàng
hậu Marie Antoinette trên các sản phẩm. Khả năng đặc biệt của Renoir
về hội họa đã khiến cho các thợ vẽ bạn phải gọi cậu là “Rembrandt”
và chính nhờ giai đoạn sao chép các tượng ý (motifs) của các bậc
thầy thuộc thế kỷ 18 như Boucher, Lancret, Fragonard… mà Renoir đã
tạo được mọât đường nét riêng, ưa thích các sắc thái tế nhị, các màu
đỏ của trái dâu, màu xanh của rong rêu,màu vàng rực rỡ và loại mặt
tranh bóng láng, giống như mặt đồ sứ. Rồi vào các ngày nghỉ, Renoir
thường viếng thăm Viện Bảo Tàng Louvre để ghi chép các họa phẩm cổ
điển, vẽ lại các tượng điêu khắc danh tiếng.

Ecole Supérieure des Beaux Arts
Renoir chỉ làm việc cho xưởng đồ gốm trong 4 năm. Cuộc cách mạng kỹ nghệ
đã khiến cho các nhà kỹ thuật sáng chế ra được một thứ máy in, in
các hình ảnh trên mặt sứ, khiến cho các thợ vẽ bị nghỉ việc. Renoir
làm việc cho một người anh, lo việc trang trí các cây quạt tay, các
lá cờ của nhà thờ và chính nhờ thời gian thực tập này mà chàng họa
sĩ đã khéo tay, nhanh nhẹn, làm chủ được kỹ thuật dùng cọ. Năm 21
tuổi, Renoir đã kiếm đủ tiền để theo học căn bản ngành Hội Họa.
Tháng 4-1862, Pierre August Renoir xin vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật
(Ecole des Beaux Arts) tại Paris, điều hành do vị giám đốc mỹ thuật
hoàng gia là Bá Tước Alfred de Nieuwekerke, một người cho rằng đường
lối Hiện Thực (realism) trong nghệ thuật có tính “dân chủ và đáng
trách“ (objectionable). Vì vậy các sinh viên mỹ thuật phải họa lại
các tác phẩm cổ điển, vẽ chính xác các tượng nổi tiếng và bắt chước
đường lối hội họa phục hưng. Thời đó có nhiều giáo sư hội họa, nhưng
vị thầy trực tiếp của Renoir là ông Charles Gleyre, một họa sĩ danh
tiếng về những bức vẽ biểu tượng (allegorical). Ngoài thời giờ theo
khóa học chính thức, Renoir còn tham dự lớp học tư, nơi này có từ 30
tới 40 học viên, được vẽ các người mẫu khỏa thân, vẽ cảnh thiên
nhiên và nhờ các kinh nghiệm sao chép các bức tranh rococo, Renoir
đã yêu thích các màu sắc rực rỡ, một điều không phổ thông vào thời
đó, trái với ý thích của Giáo Sư Gleyre. Đã có lần vị giáo sư hội
họa này hỏi thẳng Renoir : “anh chỉ vẽ cho mình vui phải không?” và
Renoir đã trả lời “Dĩ nhiên, Thầy có thể chắc chắn rằng con sẽ không
làm việc nếu không thưởng thức được Hội Họa”. Đây là một thái độ
hoàn toàn mới đối với ngành Hội Họa, với đặc điểm là bức họa bớt
trang nghiêm hơn, thêm phần sống động, cá biệt và mang tính khoái
cảm.
Cũng có một học viên khác không chú trọng vào các giáo điều của các bậc
thầy, đó là Claude Monet, một họa sĩ năng động, đã học hỏi được ở
Eugène Boudin cách nhìn và cách vẽ cảnh vật dưới các tình trạng ánh
sáng tự nhiên, và không ưa thích loại ánh sáng lạnh lùng của căn
phòng vẽ. Renoir còn có vài người bạn khác, là Alfred Sisley và
Frederic Bazille. Những họa sĩ trẻ này ngưỡng mộ một nhóm nghệ sĩ
được gọi là nhóm Barbizon, vì họ thường lui tới cánh rừng Barbizon
gần Paris, gồm có Théodore Rousseau, Constant Troyon, Jean Francois
Millet, Narcisse Diaz và Charles Daubigny. Các họa sĩ Barbizon này
ưa thích vẽ các phong cảnh đơn giản, thường gặp, như các cánh đồng
với cây cối và căn nhà của nông trại, hơn là các phong cảnh lịch sử
theo truyền thống kinh điển. Nhóm Barbizon cũng vẽ trực tiếp từ cách
quan sát thiên nhiên, quan tâm tới phẩm chất của ánh sáng và phong
thái (mood) và mặc dù màu sắc của họ còn tối sẫm và cách bố cục còn
giả tạo nhưng đường lối thể hiện mới của họ đã đóng góp vào phong
trào ấn tượng sau này mà Renoir là một thành viên.
2/ Các năm sáng tác.
Tháng 5 năm 1863 tại "Phòng Triển Lãm của các Họa Phẩm bị từ chối"
(Salon des Refusés), Edouard Manet đã trưng bày một họa phẩm có tên
là “Bữa ăn trưa trên cỏ” (Luncheon on the Grass). Bức tranh này đã
chịu sự chỉ trích và chế riễu của đại chúng vì có chủ đề gây rắc rối
và dùng các màu sắc quá tươi, một sự việc bất thường đối với thời kỳ
đó.
Lần đầu tiên Renoir nộp một họa phẩm cho Phòng Triển Lãm, đó là vào năm
1864. Tác phẩm được chấp nhận có tên là “Esmeralda đang nhẩy với một
con Dê “ (Esmeralda Dancing with a Goat) theo chủ đề “Nhà Thờ Đức Bà
của Thành Phố Paris”, một văn phẩm của Victor Hugo. Qua họa phẩm
này, Narcisse Diaz đã khuyên Renoir không nên dùng loại nhựa đường
vào trong tranh và Diaz từ đó đã trở nên một người bạn thân, giúp đỡ
Renoir. Renoir còn ngưỡng mộ Gustave Courbet và Eugène Delacroix.
Courbet đã vẽ những người thợ đập đá, những phong cảnh đơn giản, các
chân dung và khỏa thân nữ rất trung thực với đời sống, mang tính dân
chủ và quan điểm vật chất (materialistic world view), còn các bức
họa của Delacroix liên hệ với xã hội, đóng góp vào chiều hướng chung
của các nghệ sĩ là cố gắng phá vỡ các quy tắc cứng dắn của đường lối
cổ điển (classicism), hợp với chủ trương của nhà xã hội thuộc giai
cấp trung lưu là Pierre Joseph Proudhon theo đó một công trình nghệ
thuật phải được cứu xét theo chức năng của nó trong xã hội. Ngoài
quan niệm họa phẩm là một phản ảnh của thực tế, mang tính chất cá
nhân, trừu tượng và chứa đựng các cảm giác mạnh, Renoir còn ưa thích
đường lối hội họa của Delacroix với các màu sắc rực rỡ. Delacroix đã
từng nói “nhiệm vụ đầu tiên của một họa phẩm là phải thật đẹp mắt”
còn Pissaro đã viết rằng:”sự cứu rỗi nằm trong thiên nhiên” và Monet
lại muốn hòa mình vào thiên nhiên.
Vào mùa hè năm 1865, Renoir và người bạn là họa sĩ Sisley dùng thuyền
buồm, xuôi giòng sông Seine, tới Le Havre để coi các cuộc đua
thuyền. Từ trên thuyền, họ đã vẽ các cảnh bờ sông, một công việc
giống như Daubigny đã từng làm và các họa phẩm loại này của Renoir
cũng được Phòng Triển Lãm chấp nhận. Sau đó, tại làng Marlotte gần
Fontainebleau, Renoir đã vẽ xong bức họa “Tại quán ăn của Mẹ
Anthony” (At the Inn of Mother Anthony) qua đó mô tả một nhóm người
đứng chung quanh một bàn tròn, thảo luận về một bài viết trên báo
“Biến Cố” (L’Evenement). Đây là một tạp chí do Emile Zola xuất bản
năm 1866, chỉ trích Phòng Triển Lãm và định nghĩa một công trình
nghệ thuật là “một phần của thiên nhiên nhìn qua tính khí của một cá
nhân”.
Do những chỉ trích từ các nhà văn có khuynh hướng cấp tiến hơn, ban giám
khảo của các phòng triển lãm đã có những biện pháp cứng dắn hơn đối
với đường lối nghệ thuật mới. Năm 1867, họa phẩm Diana của Renoir bị
ban giám khảo bác bỏ, không cho phép trưng bày nhưng dần dần, do ảnh
hưởng của Daubigny, các họa sĩ cũng nói lên tư tưởng của các nhà
hiện thực trẻ (realists). Vào thời kỳ này, nhiều họa sĩ trẻ đang
sống trong cảnh thiếu thốn. Renoir được một người bạn giàu có tên là
Bazille giúp đỡ nhưng vẫn phải vẽ các bưu thiếp, bán lấy tiền rồi về
sau, dọn về ở với cha mẹ tại Ville-d’Avray, ngoại ô của thành phố
Paris. Monet cũng sống trong eo hẹp tại Bougival, nhưng nỗi cơ cực
nhất của họ là không có tiền mua sơn dầu. Vào các tháng mùa hè năm
1869, Monet và Renoir thường lui tới khu hồ tắm công cộng tại
Bougival, có tên là La Grenouillère (Ao Eách Nhái) bên bờ sông
Seine. Hai họa sĩ này đã vẽ cùng với nhau, bắt đầu bằng các màu sắc
tươi sáng hơn và dù cho cuộc sống có gian nan, họ vẫn không biểu lộ
qua tác phẩm các niềm lo âu, thất vọng, bi quan.
Vào thời kỳ này, các họa sĩ đang cố gắng tìm ra các nguyên tắc nghệ
thuật mới. Khi về Paris, họ tụ họp tại quán cà phê Guerbois trên đại
lộ Batignolles và vì vậy, họ được gọi là các họa sĩ Batignolles.
Trung tâm của nhóm văn nghệ sĩ mới này là họa sĩ Manet, ngoài ra còn
có các văn sĩ, các nhà phê bình như Emile Zola, Théodore Duret,
Zacharie Astruc và Edmond Duranty, các họa sĩ như Monet, Renoir,
Sisley, Camille Pissaro, Degas, Henri Fantin-Latour, còn Paul
Cézanne tham gia khi nào trở về Paris. Trong khi đó, Pierre A.
Renoir là một con người mảnh khảnh, với tính ưa khôi hài nhưng lại
không ưa tham gia vào các cuộc tranh luận. Thế nhưng các họa phẩm
của Renoir lại mang tính cấp tiến nhất vào thời kỳ đó, và Renoir đã
chủ trương rằng phải vẽ những gì con mắt nhìn thấy và phải diễn tả
lại đề tài bằng các màu sắc càng trung thực càng tốt. Mặt khác, các
họa sĩ như Jean Francois Millet và Gustave Courbet đã thực hiện các
họa phẩm trong phòng vẽ nên thiếu đi sự sáng sủa, vẻ rực rỡ của đề
tài dưới ánh sáng mặt trời. Và rồi do cứu xét các bóng mát có màu
sắc của đề tài, các họa sĩ như Renoir và Monet đã tìm thấy rằng màu
xanh là màu áp sắc. Hai họa sĩ này đã thấy các đề tài khác nhau đổi
màu tùy theo các điều kiện chiếu sáng và do các màu phản chiếu từ
các sự vật ở chung quanh. Rồi không khí chập chờn, bao quanh đề tài
đã làm cho đường viền của đề tài thiếu sự sắc nét. Môi trường sống
đã mở ra cho họa sĩ cả ngàn đề tài muôn màu, muôn vẻ: tàng cây, mây,
nước, hoa trên mặt hồ, khói từ các mái nhà, các con thuyền, các cây
dù che nắng bên bờ sông, các con người di động và ngay cả những
chiếc váy sặc sỡ của phụ nữ. Đời sống của mọi người chung quanh đã
mang theo các vẻ đẹp, sự tươi mới, sự linh động mà họa sĩ có thể tìm
thấy dễ dàng trong dịp đi nghỉ xa, trong các trận đấu thể thao hay
trong cảnh sống thay đổi của một thành phố lớn.
3/ Các họa phẩm lừng danh.

Lize
Họa phẩm nổi tiếng đầu tiên của Renoir là bức “Lise “, sau đó là họa
phẩm “Alfred Sisley và vợ " nhỏ bằng nửa nhưng qua tác phẩm này,
Renoir đã dùng màu sắc và đường nét rất cân đối và họa sĩ đã chú tâm
vào các định luật của bố cục do học hỏi được các bậc thầy tại Viện
Bảo Tàng Louvre.
Tại Ao Ếch Nhái (La Grenouillère), Monet và Renoir đã cùng vẽ, mỗi
người 3 tác phẩm với họa phong rất giống nhau nhưng tác phẩm của
Renoir mang tính dịu dàng, buông lỏng hơn. Các họa phẩm này đã mô tả
đám đông bên bờ sông và trên cầu tầu, với các con thuyền, các người
tắm sông và nhất là các mặt nước lung linh. Ánh sáng nhiều màu sắc
phản chiếu cảnh vật nhưng bố cục không theo quy tắc cổ điển và đây
là cách áp dụng câu nói rất phổ thông tại quán cà phê Guerbois, đó
là “Ấn tượng của thiên nhiên “ (the impression of nature) và cũng
do danh từ “Ấn Tượng” này mà 5 năm về sau, một trường phái hội họa
mới đã ra đời.
Mùa thu năm 1870, chiến tranh giữa nước Pháp và nước Phổ bùng nổ. Vua
Napoléon III bị thua trận và nước Pháp trở nên một nước cộng hòa.
Mùa xuân năm 1871, các công nhân của thành phố Paris cùng một số
nghệ sĩ và trí thức, đã nổi loạn, tuyên bố một loại chính phủ cách
mạng gọi là “Công Xã “ (Commune) và kết quả là cuộc nổi dậy đã bị
đàn áp. Vào giai đoạn này, các nghệ sĩ nghèo như Renoir đã phải chịu
chung sự khước từ nghệ thuật của giai cấp tư sản, nhưng cũng từ nay
bắt đầu cuộc tranh đấu về nghệ thuật bởi các họa sĩ thuộc lớp tuổi
40, để tạo nên một trường phái hội họa mới với sự rực rỡ, huyền ảo
trong kỹ thuật mô tả.
Theo truyền thống nghệ thuật của nước Pháp, các họa phẩm phải được các
vị giám khảo cứu xét, chấp nhận một cách chính thức trước khi được
trưng bày tại Phòng Triển Lãm (Salon). Những họa sĩ có tác phẩm được
trưng bày như vậy sẽ có danh tiếng, họa phẩm mới có người mua và nhờ
vậy, họa sĩ có lợi nhuận. Nhưng do truyền thống cổ xưa, chính quyền
Pháp và các vị có thẩm quyền chỉ ưa thích các đề tài hội họa “quý
phái”, diễn tả theo lối tu từ trống rỗng (empty rhetoric) khiến cho
Phòng Triển Lãm trở nên một loại tiệm tạp hóa, đề cao sở thích của
các người cầm quyền, của các vị giám khảo nghệ thuật và đây là những
người chống lại nhóm nghệ sĩ đang tìm cách đổi mới trong văn nghệ.
Cũng vì thế, ban giám khảo của Phòng Triển Lãm đã bác bỏ họa phẩm
“Diana “ (1867) của Renoir, coi đó là bức vẽ “Hottentot Venus”, một
thứ nữ thần không chính hiệu, quá “tân thời” đối với ban giám khảo
bảo thủ. Họa phẩm Diana của Renoir đã mang ảnh hưởng của Edouard
Manet và Gustave Courbet.
Sau khi nước Pháp thua trận và Công Xã bị dẹp tan, nền kinh tế của nước
Pháp lại phát triển rất mạnh nhờ đó các họa phẩm đã được bán ra với
các giá biểu khá cao. Thành quả này nhờ vào công cuộc tranh đấu của
một nhà buôn tranh tên là Paul Durand-Ruel, một thương gia vừa can
đảm, vừa khéo léo. Kể từ năm 1862, ông Paul này đã thay cha, quản lý
công việc kinh doanh các họa phẩm, bảo vệ các họa sĩ Barbizon. Năm
1870, Paul Durand-Ruel đã gặp Pissaro và Monet tại London khi 2 nhà
danh họa này chạy khỏi cuộc chiến tranh Pháp-Phổ rồi vào năm 1873,
lại khám phá ra Renoir, khi đó đang có các tác phẩm không bán được,
và nhà buôn tranh Durand-Ruel đã trả cho Renoir một số tiền nhỏ dù
biết rằng các họa phẩm mua vào còn gặp nhiều khó khăn trên thị
trường.
Tới năm 1873, các họa sĩ đã hội họp với nhau, lập nên “Hội Cộng Tác nặc
danh” (Societe anonyme cooperative) và vào ngày 15-4-1874, hội này
tổ chức triển lãm các họa phẩm tại một cơ sở của nhà nhiếp ảnh
Nadar, trên đại lộ Capucines. Renoir trưng bày tại nơi đây 6 tấm sơn
dầu và một bức phấn tiên. Ngoài ra còn có các họa phẩm của Monet,
Pissarro, Degas, Sisley và Cézanne. Ngày 25 tháng 4 năm đó, một bài
phê bình của Louis Leroy, phổ biến trên tạp chí châm biếm Charivari,
chỉ trích “cuộc triển lãm của các nhà ấn tượng” vì các tính chất
luộn thuộm, không sống động, thiếu chú ý vào các chi tiết. Ngày nay,
nhiều người đã không hiểu vì sao những phong cảnh thanh bình như Ao
Ếch Nhái, với cách mô tả trực tiếp, dịu dàng, hồn nhiên, mà lại gặp
sự chống đối của các người đương thời. Các nhà phê bình thời đó đã
chỉ trích cách vẽ thiếu rõ nét, bút pháp lỏng lẻo (loose) của các
tác phẩm ấn tượng.
Tới tháng 4 năm 1876, các họa sĩ ấn tượng lại tổ chức cuộc triển lãm thứ
hai, tại phòng tranh của Durand-Ruel trên đường Le Peletier. Renoir
đã trình bày 15 họa phẩm và nhà phê bình nghệ thuật có ảnh hưởng là
Albert Wolff đã viết trên nhật báo Le Figaro rằng “5 hay 6 kẻ điên,
bị bịt mắt vì tham vọng, đã họp lại và trình bày các việc làm. Nhiều
người chết cười vì các bức hình luộm thuộm này”. Thế nhưng cũng có
người ủng hộ các họa sĩ ấn tượng như nhà văn hiện thực Edmond
Duranty đã bênh vực cách mô tả đời sống hàng ngày, cách vẽ ngoài
trời và đường lối ghi chép tức thời.

Le Moulin de la Galette
Tháng 4 năm 1877, các họa sĩ ấn tượng lại tổ chức kỳ triển lãm thứ ba,
có sự giúp đỡ của ông Gustave Caillebotte, một kỹ sư hải quân giàu
có và cũng là người yêu thích hội họa. Trong kỳ triển lãm này,
Renoir đã đóng góp hơn 20 họa phẩm trong đó có tấm “Chiếc Đu “ (the
Swing) và Le Moulin de la Galette. Hai họa phẩm
này đã bao gồm bên trong các thái độ căn bản nhất của họa sĩ đối với
nghệ thuật và đời sống. Các tác phẩm này đã mô tả mọi người, nam
cũng như nữ, đang vui hưởng cuộc sống xã hội một cách cởi mở, dưới
ánh sáng ấm áp, rực rỡ. Hình ảnh của các con người trong tranh lẫn
nhẹ vào nhau và vào không gian chung quanh, mang đầy cảm giác của
con người, vừa vui tươi, vừa khoái cảm. Từ thời gian này, một người
bạn mới của Renoir là ông Georges Rivière đã cho xuất bản một tạp
chí nhỏ, có tên là “Ấn Tượng, Tạp Chí Nghệ Thuật” (Impressionist,
Journal d’Art) qua đó bênh vực đường lối nghệ thuật mới.
Năm 1787, Renoir đã vẽ một họa phẩm có tên là “Ly sô-cô-la nóng” (Cup of
Hot Chocolate) có tính dung hòa hơn vì lý do thương mại và đã được
Phòng Triển Lãm chấp nhận. Rồi tới năm sau, 1879, Renoir cho trưng
bày họa phẩm “Bà Charpentier và các con” (Madame Charpentier and her
children) nhờ đó, đã đạt được sự thông cảm của quần chúng. Giống như
các ông Victor Choquet và Daidet, ông Charpentier cũng là một nhà
sưu tập tranh, đã tìm ra các cơ hội để Renoir triển lãm các bức vẽ
bằng phấn tiên (pastels) và giúp Renoir có được những người bảo trợ
khác, chẳng hạn như nhà ngoại giao Paul Bérat.
Trong các năm từ 1879 tới 1881, Renoir đã sáng tác tại Wargemont, gần
Berneval trong miền Normandy. Nhà danh họa đã không tham gia vào các
cuộc triển lãm của phái Ấn Tượng và cũng ít liên lạc với các bạn
họa sĩ cũ, một phần vì các khác biệt ý kiến chính trị. Renoir không
thích chủ thuyết “vô chính phủ” của vài họa sĩ như Francois
Raffaelli và Armand Guillaumin, hoặc các tư tưởng xã hội của
Pissarro.
Pierre A. Renoir kết hôn với cô Aline Charigot vào năm 1881. Trong kỳ
trăng mật, họ đã du lịch qua nước Ý, thăm viếng khu cổ thành Pompeii
và các viện bảo tàng nổi danh. Renoir đã say mê trước các phong cảnh
tràn đầy ánh sáng và mặt nước lung linh tại thành phố Venice, khâm
phục đường lối hội họa của Raphael trong Điện Vatican.
Vào tháng 4 năm 1882, trong kỳ triển lãm thứ 7 của “Nhóm các nghệ sĩ độc
lập thuộc phái Hiện Thực và Ấn Tượng “ (the Group of Independent
Realist and Impressionist Artists), Renoir đã trưng bày 25 tác phẩm,
trong đó có bức tranh “Bữa ăn trưa của cuộc du ngoạn trên thuyền”
(Luncheon of the Boating Party). Đây là một họa phẩm lớn trên đó các
hình thể được vẽ rất dịu trong ánh sáng ấm áp, rực rỡ và chan hòa
khắp nơi. Họa phẩm này đã mang đặc tính của Renoir với các nét duyên
dáng của phụ nữ và đã diễn tả đầy đủ cảm xúc của con người.
Pierre August Renoir đã vẽ các đề tài thuộc đời sống thực, cuộc sống của
những người giàu có mà ông đã lệ thuộc như một họa sĩ và cả cuộc
sống của giới Bohemian trung lưu cấp thấp. Các họa phẩm của Renoir
không diễn tả những bi thương, không mang tính đấu tranh. Đặc biệt
là các chân dung của Renoir đã mô tả sự duyên dáng, hấp dẫn, đáng
yêu, tỏa ra từ hình ảnh hồng hào, mờ nét của thiếu nữ trẻ, hay của
phụ nữ đẹp, mang đầy đủ nữ tính mộc mạc, dịu dàng, rực rỡ trong màu
sắc tươi mới. Renoir cũng giống như các họa sĩ ấn tượng khác, đã từ
bỏ truyền thống cổ điển về cân bằng và đối xứng, đã cố gắng ghi lại
các thời điểm của cá nhân, dùng tới các yếu tố tức thời và bất đối
xứng để nhấn mạnh ấn tượng thoảng qua do đề tài gây nên. Renoir cũng
vẽ nhiều chân dung trẻ em, đã làm phát triển thứ diện mạo hồng hào
của làn da các em nhỏ, bộc lộ đôi mắt dịu dàng và trong sáng như mơ
mộng của trẻ thơ. Các chân dung của Renoir còn gồm một số người tiêu
biểu của thời đại, phần lớn là phụ nữ và loại họa phẩm này rất dễ
bán. Với loại đề tài “mọi người trong ánh sáng mặt trời”, Renoir đã
chọn một số hình khỏa thân nữ, đặc biệt là họa phẩm bán khỏa thân vẽ
người mẫu Anna trong khoảng năm 1875 (Nude in the Sunlight) trong
vườn của phòng vẽ trên đường Corot. Nhà danh họa đã làm cho chính
người mẫu trở nên một thứ hoa, nở trong các bụi cây muôn màu và đề
tài đã lẫn vào ánh sáng và thiên nhiên, và họa phẩm đã không thể
thực hiện được nếu họa sĩ không cảm xúc mạnh trước đối tượng, đời
sống, ánh sáng mặt trời và cảnh trí bên ngoài.
4/ Thời kỳ “Khô“ và các năm cuối đời.
Năm 1883, Renoir cho biết ông sẽ “ép đường lối Ấn Tượng cho khô lại” và
nhà danh họa đã thay dổi chiều hướng hội hoạ, khiến cho các nhà sử
học về nghệ thuật gọi đây là thời kỳ “Khô“. Vào giai đoạn 6 năm này,
Renoir đã chú trọng vào lối vẽ nét (drawing), trình bày cách bố cục
mạnh bạo hơn với các đường viền của đề tài rõ nét hơn và họa phẩm
theo cách cổ điển hơn. Các tác phẩm trong giai đoạn này có thể kể
vài bức như “Các ô dù “ (the Umbrellas-1883), “Các người tắm” (the
Bathers-1887), đều bị coi là kém thành công trong cách biểu hiện
trưởng thành của nhà danh họa, bởi vì các họa phẩm này đã thiếu đi
đặc tính gợi cảm ấm áp, nhẹ nhàng, tự phát ra từ các đề tài trong
tranh. Nhà danh họa Renoir đã tìm cách phối hợp sự rõ ràng về đường
nét của Jean Auguste Dominique Ingres, một họa sĩ được ngưỡng mộ,
với sự phong phú về màu sắc, và tượng trưng cho đường lối này là họa
phẩm “Các ngưới tắm”, dựa theo họa phẩm khắc nổi (bas-relief) “Các
nữ thần đang tắm” của Francois Girardon trong Điện Versailles. Các
họa phẩm thuộc thời kỳ “Khô” cũng mang tính chính xác và kiểm soát
cố ý, trình bày nặng về thể tích và cấu trúc, thiếu nhấn mạnh vào
màu sắc, thiếu đi loại bút pháp phóng khoáng, mơn trớn, thể hiện
trong các tác phẩm của thập niên 1870. Vào các năm cuối của thập
niên 1880, Renoir đã làm việc với Paul Cézanne nhiều lần và với
Berthe Morisot, nữ họa sĩ thiên tài bậc nhất trong trường phái Ấn
Tượng, người mà Renoir rất ngưỡng mộ.
Năm 1892, cùng với người bạn tên là Gallimard, Renoir đã du lịch qua xứ
Tây Ban Nha và rất cảm xúc trước các họa phẩm của Diego Velazquez và
Francisco de Goya. Cũng vào giai đoạn này, lần đầu tiên Chính Phủ
Pháp đã mua cho Viện Bảo Tàng Luxembourg họa phẩm “Yvonne và
Christine Lerolle chơi đàn dương cầm” (1897). Renoir đã trải qua các
mùa hè 1892, 93 và 95 tại thị trấn bờ biển Pont-Aven, một nơi mà các
hoạ sĩ như Paul Gauguin thường lai vãng.
Từ năm 1888, Renoir bắt đầu mắc bệnh viêm khớp (rhumatoid arthritis),
một căn bệnh làm cho nhà danh họa gặp khó khăn khi sáng tác. Vì vậy,
Renoir bị bắt buộc phải sinh sống tại miền nam nước Pháp, tại
Cagnes-sur-Mer. Tại nơi đây, nhiều nghệ sĩ danh tiếng đã thăm viếng
Renoir như các điêu khắc gia Auguste Rodin và Aristide Maillol, các
họa sĩ như Albert André và Walter Pach.
Vào các năm gần đầu thế kỷ 20, các họa phẩm của Pierre August Renoir đã
được trưng bày một cách trân trọng tại London, Berlin, Dresden,
Budapest, Vienna, Stockholm, và tại Moscow, nhà buôn tranh Sergei
Schchukin đã trình bày cho dân chúng nước Nga coi các họa phẩm ấn
tượng của Renoir và cũng nhờ vậy, ngày nay Viện Bảo Tàng Pushkin tại
thành phố Moscow còn lưu trữ các tác phẩm của nhà danh họa.
Vào năm 1912, Renoir đã phải ngồi trên xe lăn, nhưng nhà danh họa vẫn cố
gắng sáng tác với cây cọ được cột chặt vào cánh tay. Theo lời năn nỉ
của nhà buôn tranh Ambroise Vollard, Renoir trở qua ngành điêu khắc
năm 1913 và nhà điêu khắc trẻ người Ý tên là Richard Guino đã giúp
nhà danh họa Renoir trong việc đục tượng, nặn mẫu hình và vẽ phác.
Năm 1915, bà Renoir qua đời. Các năm sau này là thời kỳ nhà danh họa vừa
già, vừa tàn tật, vừa đau buồn nhưng các tác phẩm của Renoir không
bao giờ bộc lộ ra sự chán nản, nỗi thất vọng, và hàng trăm sáng tác
của ông trong các năm cuối đời vẫn chứa đầy bên trong niềm vui và
hạnh phúc, với các màu sắc ấm áp hơn: Renoir ưa thích màu siennas
vàng và đậm, màu coral vàng thiên đỏ và các bóng mát mang màu trái
dâu đỏ hay màu rêu xanh.
Nhà danh họa Pierre August Renoir qua đời vào ngày 3-12-1919 tại Cagnes,
nhưng trước đó, vào tháng 8, nhà danh họa Renoir đã được truy tặng
Bắc Đẩu Bội Tinh và đã chứng kiến việc Chính Phủ Pháp mua họa phẩm
“Bà George Charpentier”, sáng tác năm 1877, để treo tại Viện Bảo
Tàng Louvre. Mặc dù ông đã sống qua thế kỷ 20, các nhà phê bình nghệ
thuật vẫn xếp Renoir vào lớp các họa sĩ thuộc cuối thế kỷ 19, và dù
không đóng một vai trò khai triển các đường hướng mới như Gauguin,
Cézanne và Seurat, Pierre August Renoir vẫn là một trong các nhà
danh họa nổi tiếng nhất trên thế giới và các họa phẩm của ông hiện
vẫn được trưng bày tại Viện Bảo Tàng Louvre, nơi ngự trị của các Bậc
Thầy về Hội Họa.
|